THÁC TRONG THÔI CŨNG NÊN ĐỜI

Tháng 3 năm 1882, Thống đốc Nam Kỳ là Le Myre De Vilers hạ lệnh cho Capitaine de Frégate – tức Hải quân Trung tá – Henri Rivière từ Sàigòn mang quan ra đất Bắc Kỳ với dã tâm xâm lược.

Được tin chiến thuyền Pháp đến Bắc Kỳ, Tổng đốc Hà Nội là Hoàng Diệu một mặt sai Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng ra tiếp đón, một mặt ra lệnh tu sửa thành trì.

Hoàng Diệu tự là Quang Viễn, người làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Năm Mậu Thân 1848 đổ Cử nhân, năm Quí Sửu 1853 thi Hội đỗ Phó bảng, làm quan đến Binh bộ Tham tri. Năm 1880 được bổ Tổng đốc Hà Ninh, tức Hà Nội – Bắc Ninh.

Tháng 2 năm Nhâm Ngọ 1882, thấy quân Pháp tới, quan Tổng đốc ra lệnh đề phòng. Quả nhiên 5 giờ sáng ngày mồng 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ tức ngày 25-4-1882, Henri Rivière gởi tối hậu thư cho quan Tổng đốc, hẹn đến 8 giờ phải giải binh, còn Tổng đốc cùng các quan phải đến trình diện tại Đồn Thủy, là nơi đóng quân của Henri Rivière. Nhận được thư, Tổng đốc Hoàng Diệu liền sai Án sát Tôn Thất Bá dùng thang trèo ra ngoài thành để điều đình. Án sát Tôn Thất Bá vừa xuống thang thì các chiến hạm “La Fanfare”, “La Massue” và “La Carabine” đã khai hỏa vào thành. Thủy quân Lục chiến Pháp làm ba cánh đánh vào cửa Đông, cửa Bắc và cửa Tây Nam thành Hà Nội. Quan Tổng đốc Hoàng Diệu cùng Phó Lãnh binh Hồ Văn Phong thân lên cửa Bắc đốc quân kháng cự. Đến hơn 11 giờ trưa, thành vỡ.

Quan Tổng đốc cùng mười viên Cử nhân võ lui về phía Hành cung. Ngài ra lệnh: “Ai muốn về kinh thì về, ai muốn đánh thì lên Sơn Tây hợp với quan Thống đốc Quân vụ Hoàng Kế Viêm”. Quan Tổng đốc cắn ngón tay viết tờ biểu tạ tội với triều đình, hướng về Kinh bái vọng rồi lấy khăn chít đầu treo cổ trước võ miếu.

Bố chánh Phan Văn Tuyển, Đề đốc Lê Trinh trụt thành bỏ chạy. Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng trốn vào hành cung ba ngày sau mới ra. Án sát Tôn Thất Bá thừa lúc ra ngoài thành, nghe súng nổ bỏ trốn.

*

Theo lời truyền, sau khi thành Hà Nội mất và quan Tổng đốc tuẫn tiết theo thành, một nhà thơ đất Bắc Kỳ là Nguyễn Văn Giai tục gọi là Ba Giai, đã làm hai bài ca, là bài “Hà thành thất thủ ca” và bài “Chính khí ca”.

Trong bài “Chính khí ca”, đọc lên sẽ thấy cái tiết liệt ngàn năm của Tổng đốc Hoàng Diệu, người đã tuẫn tiết theo thành. Bốn câu mở đầu của bài “Chính khí ca”:

Một vùng chính khí lưu hành,

Khoảng trong trời đất nhật tinh sơn hà.

Hiệu nhiên ở tại lòng ta,

Tấc vuông son sắt hiện ra khí cùng…

Tác giả đã lấy ý trong bài “Chính khí ca” của Văn Thiên Tường. Văn Thiên Tường là một trung thần đời Nam Tống bên Trung Hoa, khi Nam Tống bị nhà Nguyên diệt, ông bị bắt, có làm bài “Chính khí ca” được lưu truyền đến bây giờ.

“Thiên địa hữu chính khí, tạp nhiên phú lưu hình. Hạ tắc vi hà nhạc, thượng đắc vi nhật tinh. Ư nhân viết hiệu nhiên, bái hồ tắc thương minh. Hoàng lộ đương thanh di, hàm hòa thổ minh đình. Thời cùng tất nãi hiện, nhất nhất thùy đan thành…”

Tháng Tư năm Nhâm Ngọ 1882 ấy là giờ phút đen tối của đất Bắc Kỳ. Hà Nội thất thủ, tiếp thêm một trang sử bi thảm của dân tộc trước gót giày Bạch quỷ.

… Một cơ gió thảm mưa sầu,

Nấu nung gan sắt, dãi dầu lòng son.

Chữ trung còn chút con con,

Quyết đem gởi cái tàn hồn gốc cây…

(Chính khí ca).

Trong cái giờ phút đen tối thành mất, quân tan đó, Tổng đốc Hoàng Diệu đã bình tĩnh nhận lấy trách nhiệm của mình. Là Tổng đốc, thay mặt triều đình trọng nhậm một tỉnh thành quan trọng nhất của đất Bắc Kỳ, nay thành mất vào tay giặc, quan Tổng đốc đã cắn tay lấy máu viết sớ tạ tội với triều đình và sau đó ông đã “Quyết đem gởi cái tàn hồn gốc cây”.

Không phải ai cũng làm được như quan Tổng đốc.Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, Đề đốc Lê Trinh, Bố chánh Phan Văn Tuyển, Án sát Tôn Thất Bá bị vua Tự Đức bắt đeo gông giải về Kinh luận tội.

Bố chánh Phan Văn Tuyển bị lột chức đuổi về làm dân, Lê Trinh cũng bị lột chức, cho đi tiền quân hiệu lực để đái công chuộc tội… Mà thôi, nói đến những vị quan viên ấy làm gì. Người đời sau chỉ nhớ tới quan Tổng đốc Hoàng Diệu thành mất chết theo thành mà thôi.

*

Gần một trăm năm sau, ở miền Nam cũng gặp “một cơn gió thảm mưa sầu” khác. Tháng Tư năm 1975, Cộng sản tràn ngập miền Nam. Và trong những giờ phút đen tối nhất của quân dân miền Nam, người ta thấy xuất hiện những Nguyễn Tri Phương, những Hoàng Diệu khác.

Hồ Ngọc Cẩn, Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ…và còn rất nhiều những Hoàng Diệu của miền Nam đã chiến đấu tới giờ phút cuối cùng hoặc đã anh dũng chết theo vận nước. Những tên tuổi ấy sẽ sống mãi với sử xanh.

Nhưng không biết vì sao, một trong những tên tuổi ấy, gần đây đã bị một số người đem ra bôi xấu. Đó là Thiếu tướng Phạm Văn Phú, nguyên Tư lệnh Quân Đoàn II & Quân khu II.

Có một vị Đại tá, trước ngày đảo chánh 11-1963 từng là cấp chỉ huy của Thiếu tướng Phú, sau đó trở lại là cấp dưới trực tiếp của Tướng Phú, đã viết mấy loạt bài, dụng ý chê bai Tướng Phú. Một vị Đại tá khác, từng là Tham mưu trưởng dưới quyền Thiếu tướng Phú, khi được phỏng vấn, đã kể lại cuộc triệt thoái cao nguyên với những lời kể không mấy tốt đẹp về Thiếu tướng Phú, đã được giáo sư Larry Engelmann đăng lại trong quyển “Tears Before The Rain”. Một vị khác, từng là Thẩm phán dưới chế độ Việt Nam Cộng Hoà, cũng đã có một loạt bài qui trách nhiệm để mất miền Nam cho những ai, những ai… trong đó có Thiếu tướng Phạm Văn Phú. Vị ấy cho rằng nếu miền Nam còn, Thiếu tướng Phú sẽ phải ra Tòa án Quân sự để chịu trách nhiệm của mình…

Người viết không có đủ những kiến thức quân sự, hoặc những dữ kiện thuộc loại “thâm cung bí sử” như các vị kia nên không dám phán đoán những chi tiết mà các vị ấy đưa ra nó đáng tin tới mức nào. Người viết cũng chỉ nghe kể lại là Thiếu tuớng Phạm Văn Phú đã từ chối lời mời di tản của người Mỹ, ở lại và tự tử bằng 32 viên Chloroquine.

Có một điều mà người viết chắc chắn là: Thiếu tướng Phạm Văn Phú đã chết, và chính ông đã chọn cho ông cái chết ấy.

*

Nhân vô thập toàn! Có ai mà khi sống lại không có những lúc sai trái, lầm lẫn điều này, điều nọ. Nếu Thiếu tướng Phạm Văn Phú trong những ngày miền Nam hấp hối, ung dung bước lên phi cơ di tản; thì giờ đây chúng ta có quyền nói với ông điều mà chúng ta không có đủ tư cách để nói với anh linh của người anh hùng Phạm Văn Phú.

Nếu sau khi để mất thành Hà Nội, Tổng đốc Hoàng Diệu cũng bỏ thành chạy trốn như Hoàng Hữu Xứng, Lê Trinh… thì chắc chắn ông cũng sẽ bị triều đình ra lệnh đóng gông và giải về Kinh nghị án, rồi có thể sẽ bị giáng xuống làm một người lính trơn, phải đi “Tiền quân hiệu lực” để chuộc tội đã mất thành trì. Và sử sách cũng sẽ không trân trọng ghi tên ông vào như hơn một trăm năm qua.

Nhưng Tổng đốc Hoàng Diệu đã chọn cho mình một cái chết, để nhận trách nhiệm với triều đình và với dân tộc. Chính thái độ chọn lựa ấy mà lịch sử mới khắc tên Hoàng Diệu bằng hai chữ vàng: “Tuẫn Quốc”.

Nếu miền Nam còn, và Thiếu tướng Phạm Văn Phú còn; có thể ông sẽ bị buộc cho một số trách nhiệm của một vị Tư lệnh. Nhưng cuối cùng, trước Quân Đội, trước Tổ Quốc, vì Danh Dự và Trách Nhiệm, Thiếu tướng Phạm Văn Phú đã chọn mức trách nhiệm cao nhất: Cái Chết!

Thế thì còn gì nặng hơn nữa để chúng ta có thể trút lên vai Thiếu tướng Phạm Văn Phú?

Những Hoàng Hữu Xứng, Tôn Thất Bá, Phan Văn Tuyển… chắc chắn sẽ không có một tư cách gì để phê phán người chủ tướng của họ là quan Tổng đốc họ Hoàng. Chắc chắn là như thế!

Ai trong số những người còn sống, đã sinh ra và đã sống, sẽ sinh ra và sẽ sống sau cái chết của Tổng đốc Hoàng Diệu có đủ tư cách để bôi nhọ ông? Chắc chắn là không!

Thế thì ai trong số chúng ta hiện giờ sẽ có đủ tư cách để bôi nhọ Thiếu tướng Phạm Văn Phú? Phê phán thì có thể, nhưng chỉ có lịch sử mới có cái quyền ấy! Hay là các vị Đại tá, Thẩm phán ấy tự cho mình có quyền phê phán, và hơn nữa, quyền được bôi nhọ cái tên Phạm Văn Phú? Các vị ấy muốn qua mặt lịch sử, muốn ngồi trên lịch sử và đặt ra lịch sử theo ý riêng của mình hay sao?  

Cái tên Phạm Văn Phú bây giờ không còn là của riêng cá nhân Thiếu tướng Phạm Văn Phú, cũng không còn là của riêng gia đình Thiếu Tướng Phạm Văn Phú; mà cái tên ấy hiện giờ là của chung tất cả chúng ta. Cũng như những cái tên Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn…, cái tên Phạm Văn Phú đã trở thành những biểu tượng, là những cái tên được khắc bằng chữ vàng vào lịch sử. Không một ai có quyền bôi bẩn những cái tên ấy, dù bằng bất cứ hình thức nào, hoặc vì bất cứ lý do gì!

*

Những cái tên ấy, những con người ấy, những cái chết ấy đã làm sáng lên danh dự của một Quân đội kiêu hùng đã chống đỡ cho sự tồn vong của miền Nam trong hai mươi mốt năm. Những con người ấy đã thay cho hết thảy chúng ta để gánh vác cái phần nặng nề, gai góc nhất của gánh nặng trách nhiệm để mất miền Nam. Nếu có ai tự hào là cá nhân mình đã vượt qua những gì mà các con người ấy, các tên tuổi ấy, các cái chết ấy đã vượt qua thì mới có quyền bôi bẩn tên tuổi của các vị anh hùng đã tuẫn quốc đó.

Ai mà trong cuộc đời lại chẳng có kẻ yêu, người ghét. Thiếu tướng Phạm Văn Phú chắc cũng không ra ngoài cái quy luật ấy. Nhưng những thù hằn, những tỵ hiềm cá nhân của các vị ấy đến đâu chắc cũng không thể nào nặng hơn những gì mà Thiếu ướng Phú đã thay chúng ta để làm trong những giờ phút cuối cùng của miền Nam.

Nếu có một chút lý trí và lòng tự trọng tối thiểu, các vị ấy có lẽ sẽ không bao giờ đi làm một việc mà Cộng sản Hà Nội bao nhiêu năm qua rất muốn làm nhưng chưa có cách gì làm được: nói xấu và bôi bẩn các biểu tượng anh hùng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa!

Đừng bao giờ nên để cho những tỵ hiềm cá nhân làm mờ lý trí. Huống chi những tỵ hiềm riêng ấy cũng không lấy gì là chính đáng!

*

Trước khi muốn phán xét người, chúng ta hãy tự phán xét mình. Liệu chúng ta có đủ lý trí, lòng khách quan và sự can đảm nhìn vào sự thực để tự phán xét mình chưa?

Hàm huyết phún nhân, tiên ô tự khẩu. Nói xấu người khác tức bẩn mồm mình. Khi chúng ta muốn bôi bẩn người khác, chúng ta đã tự bôi bẩn mình. Huống chi giữa chúng ta và con người mà chúng ta muốn bôi bẩn ấy, khoảng cách giờ đã quá xa, quá rõ. Không khéo lại có thể làm cho mọi người thấy rằng chúng ta chê bai bôi bẩn các người anh hùng ấy chỉ nhằm mục đích muốn nổi tiếng nhờ vào cách đóng trò khỉ ở gần những ánh hào quang của những người đã dám “thung dung tựu nghĩa!”

Thác trong thôi cũng nên đời

Sống thừa chi để kẻ cười, người chê!

(Chính khí ca).

Có lẽ rồi một ngày nào đó sẽ có người viết một “Tân chính khí ca” để nói về các Hoàng Diệu năm 1975. Còn xin thưa với các ông Đại tá, Thẩm phán đã bỏ công viết lách để cố công làm mờ đi một biểu tượng: những con đom đóm làm sao đọ được với ánh mặt trời. Bởi vì so với những cái “THÁC TRONG” của các bậc anh hùng tuẫn quốc kia, các vị Đại tá T.K.K, L.K.L., Thẩm phán Nguyễn Cần, tức Tú Gàn, tức Lữ Giang và cả bản người viết bài này nữa, chúng ta chỉ là những kẻ đang “SỐNG THỪA” mà thôi!

LÃO MÓC

This entry was posted in LÃO MÓC and tagged . Bookmark the permalink.

Có 3 phản hồi tại THÁC TRONG THÔI CŨNG NÊN ĐỜI

  1. Kenny nói:

    Tham muu truong quan doan 2 dai ta Le khac ly bo chay truoc khi Cong quan tien chiem ,qua My truoc 30-4-1975 bay gio loi mat chuot vinh than phi gia, that la lu gia com tui ao co gi dang de ma ban .Lao moc khi viet nen de ten that ro rang de moi nguoi cung biet tai sao phai viet tat, hay la ong so do ngoi but cua ong?

  2. Sơn N nói:

    Ông Móc này chống cộng vì VC “cấm nói” ,,, nay mấy ông tá có ý kiến về người chịu trách nhiệm QK 2 thì ổng “cấm họ nói” ,,, tớ nghĩ tướng tá đến anh binh bét đều phải chịu trách nhiệm về vai trò và hành động của mình ,,, thí dụ như anh binh bét nằm tiền đồn đêm tối bạn ra đổi ca anh ngủ quên giật mình tưởng địch phơ một phát đồng đội anh ngủm ,,, anh có ra tòa án binh không ??? ,,, anh sĩ quan chỉ đề lô kêu pháo lộn gỏ lên đầu quân bạn gây thương vong cao ,,, anh ta có phải ra tòa án binh không ??? ,,, huống hồ chi ông tướng tư lệnh làm mất cả cả QK thì tổn thất không phải nhỏ ,,,, ông ấy vì trách nhiệm mà tự tử là hành động đáng khâm phục ,,, nhưng phải để mọi người góp ý kiến chúng ta khác bọn VC là chổ dám làm dám chịu ,,, đương nhiên làm người đâu có ai hoàn toàn cao siêu đâu ,,, ai không tham sống sợ chết ,,, nhưng cũng có những cái chết vì trách nhiệm ,,, vì hối hận ,,, vì liêm sĩ,,, vì sĩ diện ,,, vì quyền lợi ,,,,hoặc vì bị vợ bỏ cũng tự sát kia mà ,,,,
    Chống cộng không phải vì mang lon mang lá mới chống cộng ,,,, anh binh bét anh ta có quyền lợi gì khi cầm súng lao vào địch khi có lệnh xung phong,,, nếu ngã xuống thì cũng âm thầm ,,, hoặc nếu anh ta tự sát khi rơi vào tay địch thì cũng chẳng có ai quan tâm ,,, vì những nước nhược tiểu thì tai to mặt lớn ,, lon lá ê hề thì mới được bá tánh tung ca ,,,, đến chổ nằm cũng phân biệt cao thấp ,,,, hãy nhìn người Mỹ ,,, tướng tá lính tráng gì chết xuống cũng nằm chung nhau ,,, diện tích mộ phần gì cũng xêm xêm ,,,,,

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s