CHỈ VÌ NÀNG MỴ CHÂU

Trong lịch sử Việt Nam có nhiều chuyện tình như chuyện tình công chúa Tiên Dung lấy anh thuyền chài không có cả thuyền, không có cả khố rách, áo ôm là Chử Đồng Tử. Nhưng chuyện tình được coi như một thiên tình sử đầy máu và nước mắt là chuyện tình Trọng Thủy, Mỵ Châu.

Sử ghi lại rằng tướng Tàu Triệu Đà đánh không lại An Dương Vương Thục Phán của nước Âu Lạc (là tên gọi của nước ta lúc đó) vì nước này có thành Cổ Loa và nỏ thần, bèn cầu thân bằng cách cho con trai là Trọng Thủy cưới con gái An Dương Vương là Mỵ Châu. Vua Thục không ngờ đây là ngón đòn “nam nhân kế” của ông “thông gia” Triệu Đà mà “điệp viên” là chàng con trai Trọng Thủy. Sau khi hoàn thành sứ mạng là tìm hiểu cấu trúc xây cất của Loa Thành và bí quyết của nỏ thần, Trọng Thuỷ trở về nước. Lo sợ cuộc chinh chiến sẽ xảy ra, cô công chúa Mỵ Châu bèn ước hẹn với chồng là nếu chiến tranh xảy ra thì nàng sẽ bứt những sợi lông ngỗng trên chiếc áo choàng rắc ở các ngã ba đường để làm dấu. Chiến tranh đã xảy ra. Nỏ thần đã vô hiệu trước cuộc tiến công của quân của Triệu Đà. Vua Thục quay ngựa về cung đem theo công chúa Mỵ Châu trên lưng ngựa lên đường bôn tẩu. Chạy đến đâu nhà vua cũng nghe tiếng vó ngựa đuổi theo. Chạy đến sáng thì cùng đường.

Thần Kim Quy hiện lên, nói:

-Mau lên, giặc ở ngay sau lưng rồi.

Sử chỉ chép rằng Vua quay lại rút gươm chém chết công chúa Mỵ Châu. Nhưng có người viết “Dị sử” (*) thì thêm thắt như sau:

“Vua Thục ngoảnh lại nhìn phía sau. Một đoàn kỵ binh xuất hiện ở phía cửa rừng, bụi tung mờ mịt. Mỵ (Nương Thanh) Châu tưởng vua quay lại nhìn mình. Nàng cho rằng tất cả tai họa của đất nước đều do nàng đem lại. Nàng đã quá tin người. Nàng nói:

-Con là gái, nếu có lòng phản nghịch để tìm cách mưu hại phụ vương thì khi chết, xin cho thân xác này biến thành bụi đất. Còn nếu con là người trung tín, chỉ vì ngây thơ mà bị người ta lừa gạt thì xin sau khi chết hoá thành châu ngọc để chứng minh cho tấm lòng chung thủy của con với vua, với dân và với nước.

Nói xong, nàng rút chiếc gươm ở lưng vua Thục, đâm vào bụng nàng…       

Triệu Đà lấy được nước Âu Lạc, gồm cả hai nước Triệu và Âu Lạc, lập thành nướcNam Việt. Trọng Thủy đem xác Mỵ Châu về chôn ở thành Ốc, ngay nơi chỗ ngày xưa hai người vẫn chung sống với nhau…

Thiên tình sử não nùng kết thúc khi Trọng Thủy nhảy xuống một chiếc giếng ngoài sân điện mà chết…

Ngư dân làng Cao Xá ở Châu Diễn gần núi Mộ Dạ trong khi lặn xuống biển sâu đã tìm đoục nhiều ngọc châu trong lòng của loài hàu hến. Những con ốc trai này đã ăn máu đào chảy từ thi thể Mỵ Châu. Chính ở bờ biển ngư thôn Cao Xá này mà Mỵ Châu đã tự tận.

Có những người ở Phong Khê nói rằng đem những châu ngọc mua được ở Châu Diễn mà rửa bằng nước múc ở giếng ngày xưa Trọng Thủy trầm mình thì sắc ngọc trở thành rực rỡ… 

Thiên tình sử đầy máu và nước mắt của nàng công chúa Mỵ Châu đã được nhiều văn nhân, thi sĩ cảm hứng sáng tác thành thơ.

Nhà thơ Dương Bá Trạc đã “Vịnh Bi Kịch Thành Loa” như sau:

“Thành Loa trăm thước chẳng là bền

Móng rùa ba tấc chẳng là thiêng.

Nước nhà dấy mất tại ngươi cả,

Gió mưa gây dựng công khó nhọc

Nam gồm Văn Lang, Bắc Ba Thục,

Dư đồ muôn dặm mở mang tới. 

Một tấm sơn hà, một tấm vóc,

Sẵn sàng cơ nghiệp không biết giữ

Chiến đã không xong, hòa cũng ngộ,

Biên phòng chễnh mảng, thù hận quên

Quanh quẩn một lầm hai tại lỡ,

Thân già đâu nới kẻ thù gia

Chồng nào thương vợ, con lìa cha

Giặc ngồi sau lưng nói chi nữa,

Nước ôi, nhà ôi, biển Đại Nha!”

Và nhà thơ Trần Tuấn Khải đã viết trong “Cổ Loa Hoài Cảm” những câu thơ như sau:

“Thành quách còn mang tiếng Cổ Loa,

Trải bao gió táp với mưa sa.

Nỏ thiêng hờ hững giây oan buộc,

Giếng ngọc vơi đầy giọt lệ pha.

Hoa cỏ vẫn cười ai bạc mệnh,

Cung đình chưa sạch bụi phồn hoa

Hưng vong biết chữa người kim cổ?

Tiếng cuốc năm canh bóng nguyệt tà.”

Theo Lão Móc thì bốn câu thơ của nhà thơ Tố Hữu viết về chuyện tình Mỵ Châu sau đây là xuất sắc nhất:

“Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm lỡ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ lắm bể dâu!”

Trong quyển “Trăm hoa đua nở trên đất Bắc”, học giả Hoàng Văn Chí viết: “Tố Hữu là nhà văn xưa nay vẫn trung thành với Cộng Sản.” “Tố Hữu là thần tượng của thi ca cộng sản Việt Nam cũng như Maiakovski ngày xưa là thần tượng của thi ca Liên Sô”, “lời thơ của ông rất hay”.

Bỏ đi những bài thơ nô dịch ca tụng “bác” Hồ, “Bác” Mao, Bác “Sít”, “Bác” Lê thì nhận xét của học giả Hoàng Văn Chí rất chính xác.

Theo bài viết của tác giả Vũ Thế Phan thì ông này còn “khám phá” ra nhà thơ Tố Hửu còn là một nhà tiên tri. Theo ông này thì khi làm các câu thơ:

“Đường xa bao nỗi truân chuyên  

Ngọn đèn đêm gió, con thuyền biển khơi.

Đèn vẫn tỏ, thuyền bơi tới trước

Đảng ta đưa dân nước ta đi…”

trong bài “Ba mươi năm đời ta có Đảng” là nhà thơ Tố Hữu đã tiên tri việc hàng triệu thuyền nhân Việt Nam vượt biển đi tị nạn… đảng!

Cũng hỗn xược như Hồ Chí Minh đã “Bác tôi, tôi, bác” với Đức Thánh Trần; Tố Hữu, kẻ đã cao ngạo đòi “khúc xưa xin lại so dây” cùng… Nguyễn Du khi “nửa đêm qua huyện Nghi Xuân/Bâng khuâng nhớ cụ thương thân nàng Kiều” đã làm hai câu thơ:

“Mai sau dù có bao giờ

Câu thơ thuở trước, đâu ngờ hôm nay!”

Và nếu suy luận theo cái kiểu của tác giả Vũ Thế Phan thì chúng ta thấy ngay là nhà thơ Tố Hữu, con chim đầu đàn của “nền văn chương cũi sắt” đã tiên đoán những việc làm phản dân, hại nước của “Bác” Hồ cũng như của những người thừa kế sự nghiệp của “Bác” trong việc hiến đất, dâng biển cho đàn anh phương Bắc qua 4 câu thơ về chuyện tình của nàng Mỵ Châu.

Nàng Mỵ Châu ngày xưa vì “trái tim lầm lỡ để trên đầu” nên đã vô ý trao nỏ thần cho giặc mà gây cảnh cơ đồ lắm bể dâu!   

Ngày nay, chính Hồ Chí Minh và những người thừa kế của ông ta là NHỮNG NÀNG MỴ CHÂU THỜI ĐẠI ĐÃ CỐ TÌNH GÂY RA CẢNH CƠ ĐỒ LẮM BỂ DÂU!

Chính Hồ Chí Minh đã ra lệnh cho Thủ Tướng VC Phạm Văn Đồng gửi thư cho Chu Ân Lai, Tổng Lý Quốc Vụ Viện của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc bức thư công nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh hải của Trung Cộng. Và chính những Lê Khả Phiêu, Trần Đức Lương, Lê Công Phụng… và những kẻ lãnh đạo đảng CSVN là NHỮNG CON ĐĨ MỴ CHÂU ĐANG DẠNG HÁNG CHỜ BỌN GIẶC BÀNH TRƯỚNG PHƯƠNG BẮC – như nữ sĩ Dương Thu Hương đã lớn tiếng tố cáo và kêu gọi Quân Đội Nhân Dân HÃY GIẾT CHẾT CON ĐĨ MỴ CHÂU ĐANG DẠNG HÁNG ĐỢI CHỜ TÊN TRỌNG THỦY THỜI ĐẠI LÀ BỌN GIẶC BÀNH TRƯỚNG PHƯƠNG BẮC!

Trước hiểm hoạ phương Bắc, nữ sĩ Dương Thu Hương, người cầm bút chống Đảng nổi tiếng từ thập niên 90 với “chuyện tình trên sông Đà” với một vị bác sĩ nhiều tai tiếng ở San Francisco, đã từ Paris trả lời loạt bài phỏng vấn, cũng như các bài viết với những lời tố cáo nẩy lửa, đanh thép đối với những kẻ đang lãnh đạo đảng CSVN.     

Nhiều người tin tưởng ở những lời tố cáo, kêu gọi của bà; nhưng cũng có những người đã từng bị những giở giói của VC thì có phần e dè; nhất là khi bà ta đến Pháp và xuất bản quyển “Đỉnh Cao Chói Lọi” có nội dung ca tụng Hồ Chí Minh! 

Chuyện bất ngờ nhất là cũng CHỈ VÌ NÀNG MỴ CHÂU mà mới đây, trong một bài viết, nhà văn Dương Thu Hương đã tuyên bố sẽ NGƯNG VIẾT!

Theo bài viết để trả lời ký giả Huy Đức ở trong nước thì nhà văn Dương Thu Hương công khai nhận lỗi là mình đã sai lầm khi viết NÀNG MỴ CHÂU LÀ CON CỦA TRIỆU ĐÀ! Và bà đưa lý do là bà sẽ ngưng viết là vì ĐÃ GIÀ! Đây cũng là lý do bà giải thích “vì sao bà đã sai lầm khi viết Mỵ Châu là con của Triệu Đà!” Lão Móc tin là bà Dương Thu Hương đã thành thực khi viết ra điều này; bởi vì không ai tin một người như nhà văn Dương Thu Hương  lại không biết Mỵ Châu là con của An Dương Vương Thục Phán.

Nếu nhà văn Dương Thu Hương sẽ thực hiện lời hứa của bà thì phải nói bà là một nhà văn có tinh thần liêm khiết trí năng rất cao!

Tuy nhiên, theo Lão Móc, bà nhà văn Dương Thu Hương cũng không nên quá khắc khe với mình mà làm gì. Ở đời ai mà chẳng có lúc nhầm!

Ở hải ngoại chúng tôi ở Hoa Kỳ, ở phe Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi, có ông nhà văn lớn tuổi hơn bà Dương Thu Hương rất nhiều, cấp bậc cao hơn cấp bậc “thanh niên xung phong xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” của bà Dương Thu Hương rất nhiều, viết văn lâu năm hơn bà Dương Thu Hương rất nhiều… Nhiều năm trước đây, ông ta đã hùng dũng “phán” rằng cố nhà báo Chử Bá Anh là hậu duệ của Chử Đồng Tử. Có người lên tiếng phê bình về chuyện dốt nát này của ông ta; ông ta vẫn tỉnh bơ! Lại tiếp tục làm những chuyện sằng bậy khác, bị phê bình, ông ta lại vẫn tỉnh bơ! Và thách thức người khác chửi nữa đi em!

Đề nghị bà nhà văn Dương Thu Hương nên học công phu “thiết bì sam” của niên trưởng của chúng tôi là nhà văn Giao Chỉ, tức cựu Đại Tá QLVNCH Vũ Văn Lộc.  

Không nên CHỈ VÌ NÀNG MỴ CHÂU mà lại rửa tay, gác kiếm thì đâu còn ai cùng tấu khúc “tiếu ngạo giang hồ” với “Bác” Bùi Tín?

Không biết ý của Dương nữ sĩ thế nào?

LÃO MÓC

(*) Văn Lang Dị Sử, tác giả Nguyễn Lang, một bút hiệu khác của thiền sư Nhất Hạnh.

Advertisements
Bài này đã được đăng trong LÃO MÓC và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

3 Responses to CHỈ VÌ NÀNG MỴ CHÂU

  1. hcmeo nói:

    TRÍCH: Vua Thục không ngờ đây là ngón đòn “nam nhân kế” của ông “thông gia” Triệu Đà mà “điệp viên” là chàng con trai Trọng Thủy. Sau khi hoàn thành sứ mạng là tìm hiểu cấu trúc xây cất của Loa Thành và bí quyết của nỏ thần, Trọng Thuỷ trở về nước…

    Trước hết nói thêm về nhân vật Triệu Đà:

    Triều Đà là một trong những tướng tài giỏi của Tần Thủy Hoàng. Năm 214 tr. TL, Tần Thủy Hoàng sai tướng Đồ Thư / Triệu Đà đánh lấy Bách Việt (Hồ Nam, Quảng Đông, Quảng Tây ngày nay). An Dương cũng xin thần phục nhà Tần. Tần mới chia Bách Biệt và đất Âu Lạc ra làm ba quận, là Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng Quận (miền Bắc Việt ngày nay). Theo cổ sử Hoa thì người bản xứ ở đất Bách Việt không chịu để người Tàu cai trị, trốn vào rừng ở. Quân của Đồ Thư, vốn là người ở phương Bắc, không chịu được thủy thổ, phải bệnh rất nhiều. Bấy giờ, người Bách Việt thừa thế nổi lên giết được Đồ Thư. Chẳng được bao lâu thì Tần suy, nước Tàu có nhiều giặc giã, ở quận Nam Hải có quan úy là Nhâm Ngao thấy có cơ hội, muốn mưu đánh lấy Âu Lạc để lập một nước tự chủ ở phương Nam. Nhưng công việc chưa thành, Nhâm Ngao mất. Khi sắp chết Nhâm Ngao trao quyền cho Triệu Đà làm quan úy quận Nam Hải.

    Triệu Đà đánh lấy Âu Lạc, sát nhập vào Nam Hải, lập ra nước Nam Việt, năm quí tị (207 tr. KN) tự xưng làm vua, hiệu là Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung (nằm ngang trên đường Hạ Chí Tuyến) gần thành Quảng Châu bây giờ.

    Trước khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 là một nữa nhân loại sống đời “thuộc địa” chịu sự đô hộ của thực dân đế quốc Anh-Pháp-HòaLan-Bồ….nhưng sau khi Phát-Xít đầu hàng vô điều kiện với đồng minh vào ngày 9.5.1945 ( trước đó Hitler cũng tự kết liểu đời mình bằng một viên đạn vào đầu ở Bá Linh ngày 30.4.1945) thì có thể nói là chủ nghĩa Phát-Xít và Thuộc Địa đã thật sự cáo chung kể từ ngày 30.4.1945 cũng với sự ra đời LHQ với chủ trương “Quyền Dân Tộc Tự Quyết” và có 75 nước thuộc địa đã được lần lược trao trả độc lập trong đó có cả 3 nước đông dương.

    Cho nên hồ hào đánh Pháp đuổi Mỹ sau WW2 là một đại lầm lẩn một đại tai họa cho dân tộc VN nhưng đối với Mao-Hồ đó là mưu đồ thâmn độc, ngàn năm có một, một sự cần thiết để bành trướng TQ về phía Nam sau khi đã đánh chiếm Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mộng, Mãn Châu…..

    Mao-Hồ là hai đại tội đồ muôn thuở đối với dân tộc VN nhưng là 2 đại anh hùng có công lao mở mang bở cỏi cho TQ còn rộng lớn hơn Tần Thủy Hoàng được coi như là người có công sáp nhập 6 nước chư hầu vào nước Tần và tạo một nước Trung Hoa Thốnng Nhất ra đời từ năm 221 BC và TTH xua quân qua sông Dương Tử đánh chiến luôn Hồ Nam/ Quảng Đông / Quảng Tây và Tượng Quận ( Miền Bắc VN ngày nay ) của Bách Việt và sáp nhập vào TQ kể từ năm 214 BC.

    Xin đừng quên: Một Nửa TQ ngày hôm nay kể từ phía nam bờ sông Dương Tử ( con sông dài nhất TQ chìa đôi TQ ra làm hai: Bắc TQ và Bách Việt ) đã từng thuộc chủ quyền của Bách-Việt trước năm 214 BC!!!

    Cho nên vua Quang Trung sau khi đại thắng quân Nhà Thanh vào năm Nhâm Tý (1792), cho rằng quân lực đã đầy đủ, sẵn sàng để chống nạn Bắc xâm, và có lẽ để thăm dò ý vua nhà Thanh, Quang Trung sai tướng Vũ Văn Dũng đi sứ sang Yên Kinh dâng biểu cầu hôn và xin vua Thanh trả lại cho Việt Nam đất Lưỡng Quảng. Không ngờ, vua Quang Trung phải bệnh mất, các quan dìm việc cầu hôn và việc xin trả đất đi, không cho Thanh triều biết. Nhưng cũng có nguồn tin là Vua Nhà Thanh đã qua Vũ Văn Dũng gởi tặng Quang Trung một tấm áo gầm cực đẹp có tẩm thuốc độc và cũng vì chiếc áo gấm này mà Quang Trung qua đời sau đó (1752 – † 1792) thọ 40 tuổi.

    Chiêu giết người bằng thuốc độc này được HCM và bọn tình báo Hoa-Nam lập đi lập lại sau này để ám hại không biết bao bọn chóp bu CSVN không tuân phục Bắc Kinh và mới nhất là Thứ Trường BQP Thượng tướng Nguyễn Khắc Nghiên từ trần vào ngày 13.11.2010.

    Trở lại bài viết: tác gỉa biết 1 mà không biết 2, thực ra TQ dùng “điệp viên” HCM ( bí danh Thiếu Tá Tình Báo Hồ Quang của Bát Lộ Quân, tên cúng cơm là Hồ Tập Chương) chơn đòn “nam nhân kế” đã lừa được cả dân tộc VN đang trong cơn mê mộng “Độc Lập – Dân Chủ – Tự Do” dẫn đến mất nước mà thi sĩ Tô Hải đã viết về “tình yêu nươc hồn nhiên” trong sách “Hồi ký của một thằng Hèn”:

    “Đúng ngày 17 tháng 8 năm 1945, chúng tôi kéo nhau đến quảng trường Nhà Hát Lớn Hà Nội mít-tinh chào mừng chính phủ Trần Trọng Kim. Cuộc mít-tinh bắt đầu được mấy phút bỗng hàng loạt cờ đỏ sao vàng được tung ra, cờ quẻ ly bị giật xuống và trên bục diễn giả xuất hiện một người đeo poọc-hoọc, đăng đàn diễn thuyết, kêu gọi đồng bào đi theo Việt Minh, đánh Pháp, đuổi Nhật, đòi lại áo cơm, tự do, xóa bỏ gông xiềng… Những khẩu hiệu vừa phát ra đã có hàng ngàn người hô to hưởng ứng. Không một tiếng súng. Không một sự phản kháng từ ai, từ đâu, dù trại lính Nhật ở cách đó chỉ khoảng 300 mét!

    Cuộc khởi nghĩa thành công nhanh như thế đó!

    Sau này, loại thanh niên “yêu nước hồn nhiên” bọn tôi đâu có dám lên tiếng khi nghe người ta tự tâng bốc kể công với lịch sử rằng “Đảng đã lãnh đạo toàn dân nổi dậy đánh Pháp, đuổi Nhật dành tự do, độc lập cho đất nước!”

    Và các nhà viết sử Nhà Nước Cộng Sản cũng lờ tịt luôn cái chuyện Việt Minh cướp chính quyền từ chính phủ quân chủ lập hiến Trần Trọng Kim — không khác vụ lật đổ chính phủ Kerensky ở nước Nga trong lúc nội tình nước này đang bối rối.

    Thực tế lúc ấy là…. chúng tôi có biết gì đến cái đảng cộng sản cộng xiếc, nhất là ông Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh sau đó còn công khai tuyên bố GIẢI TÁN ĐẢNG của ông ta trước thế giới và đồng bào cả nước! Trong chính phủ có đầy đủ các vị Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh…. và cả “cố vấn” Bảo Đại nữa.

    “Quả lừa lịch sử” bắt đầu chính là từ đây! Vận nước khốn nạn nhất cũng bắt đầu từ đây!

    Tại sao Việt Nam không độc lập như Mã Lai, Nam Dương, Ấn Độ, Thái Lan, Phi Luật Tân… mà phải qua 30 năm chém giết kẻ thù thì ít…. mà chém giết nhau thì nhiều?”… Đây là sự hy sinh cực kỳ vô duyên cho cái chủ nghĩa không tưởng, cho sự tiếm quyền của một lớp người âm mưu làm VUA của cái nước Việt Nam khốn khổ này bằng chiêu bài Độc Lập, Tự Do mà ở các nước, người ta đã có từ nửa thế kỷ nay rồi vì may mắn thay, họ không có Đảng Cộng Sản cầm quyền! Bi kịch lớn của triệu tấn bi kịch nhỏ chính là đây! (HKCMTH – tr. 424 – 425)

    Có thể nói thời đại đồ đểu HCM là thời đại bi kịch có một không hai trong LSVN: Cả Một Dân Tộc bị thằng Bác HCM lừa cướp được VN cho Mao-Chu trên 65 năm nay và cả dân tộc vẩn chưa thoát ra được cơn mê mang điên dại lịch sữ naỳ.

  2. Em Hic hic nói:

    Hy vọng chị Thu hương “nói vậy nhưng sẽ không là vậy”, vì chúng ta đang cần những người “tham góp cho công cuộc đấu tranh chung (DTH)”. Hic!hic!

  3. No Name nói:

    Tôi thích đọc đoạn đầu bàn về văn chương, bàn về nỗi niềm của nàng Mỵ Châu, nhưng đọc đoạn sau bàn về chính chị, tác giải có cái nhìn phiến diện, cực đoan, ngôn từ chợ búa thiếu giáo dục.
    bạn đọc

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s