NHÂN NGÀY QUÂN LỰC

Kể từ năm 1965, ngày 19 tháng 6 được Việt Nam Cộng Hòa chọn làm “Ngày Quân Lực” để kỷ niệm ngày Quân Ðội VNCH lên nắm chánh quyền tại Miền Nam Việt Nam, sau một chuỗi dài liên tiếp xáo trộn từ đảo chánh, chỉnh lý, biểu tình, bạo loạn v.v… để rồi sau đó 2 năm, cũng chính Quân Ðội đã tổ chức cuộc bầu cử Tổng Thống, khai sinh nền Ðệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam.

Thiết tưởng chúng ta cũng nên ôn lại một chút quá khứ để trước là tưởng niệm những người đã hy sinh dưới lá cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ, và những người miền Nam còn sống hôm nay biết được chúng ta phải làm gì để cho những sự hy sinh đó khỏi mai một, khỏi tan biến vào dĩ vãng đau thương cho đất nước đang đứng bên bờ vực thẳm diệt vong, do đảng Cộng Sản Việt Nam cấu kết với Trung Cộng trong cuộc đồng hóa đất nước và dân tộc Việt Nam.

Vận mệnh dân tộc Việt Nam gắn liền với 2 chữ đấu tranhnhược tiểu. Sau Ðệ Nhị Thế Chiến các dân tộc trên thế giới đều lấy đó làm một bài học để tránh né, nếu không nói là khước từ tất cả các cuộc xung đột bằng võ lực, sợ rằng nó sẽ dẫn đến một cuộc tàn sát kinh hồn giống như những gì mà nhân loại đã trãi qua trong cuộc Thế Chiến. Do đó, hầu hết các nước nhược tiểu, bị thực dân đô hộ đã được trao trả độc lập. Và các nước nhược tiểu này đã bắt đầu một cuộc sống độc lập tự do và dân chủ. Riêng Việt Nam, cũng đã được quân đội Nhựt lúc đó đã đánh bại Pháp và đô hộ Việt Nam, đã trao trả độc lập cho Việt Nam vào tay Hoàng Ðế Bảo Ðại ngày 9 tháng 3 năm 1945, nhưng Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản thuộc Ðệ Tam Quốc Tế đã lợi dụng khoảng trống, kẻ hở của lịch sử, giành lấy quyền lực, bức bách Hoàng đế Bảo Ðại phải thoái vị.

Nhưng, sau một thời gian dài, vì các siêu cường thế giới biết rõ âm mưu của Hồ Chí Minh, một tay sai của Ðệ Tam Quốc Tế đang đưa Việt Nam đặt dưới quyền lực của Cộng Sản, không một nước nào công nhận chính thể Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa, kể cả những nước Cộng Sản. Với tính giảo hoạt sẵn có, Hồ Chí Minh đã bày trò liên lạc với Pháp là kẻ đang manh tâm trở lại đô hộ Việt Nam Và một Hiệp Ðịnh Sơ Bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, chấp nhận cho 15 ngàn quân Pháp được trở lại miền Bắc với danh nghĩa “để giữ trật tự trong thời hạn 5 năm”. Ngày 18.3.1946, 15 ngàn quân Pháp rầm rộ tiến vào Bắc Việt và ngày 19.5.1946 Ðô đốc D’Argenlieu của Pháp nhận “lời mời” của Hồ Chí Minh “thăm Hà Nội” được Hồ Chí Minh ra lệnh treo cờ để đón tiếp với lý do “mừng ngày sinh nhựt cụ Hồ”. Với hiệp định Sơ Bộ ngày 6.3.1946, chính phủ Pháp phải công nhận “nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” và Việt Nam phải để Quân đội Pháp tái chiếm Bắc Việt mà không phải giao tranh. Ðể trấn an dư luận toàn quốc phản đối hành động rước kẻ thù tái xâm lăng, Hồ Chí Minh lập luận “thà để Pháp chiếm 5 năm, hơn để quân Tàu cai trị một ngàn năm” hoặc “thà ăn cứt thằng Tây còn hơn làm bạn với thằng Tàu”.  Trong lúc cả thế giới tránh né chiến tranh thì Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Ðông Dương lại rước thực dân Pháp vào chiếm Bắc Việt không phải giao tranh. Trong khi đó, để độc quyền cai trị đất nước, Hồ Chí Minh đã cho cán bộ ngầm tiêu diệt các đảng phái Quốc Gia chống Pháp, nhưng không Cộng Sản, mặc dù  Hồ Chí Minh đã thỏa hiệp với các đảng phái này lập chính phủ liên hiệp. Cuộc chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh không tránh khỏi. Người Quốc gia chống Pháp và đồng thời phải chống độc tài Cộng Sản vì chúng đang tìm cách tiêu diệt. Ai tạo nên cuộc chiến 1945-1954? Chính Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản.

Trước gọng kềm từ 2 phía Việt Minh và thực dân Pháp, người Việt Quốc Gia, dưới sự lãnh đạo của “Quốc Trưởng Bảo Ðại” thương thuyết với Pháp để giành lại độc lập, và chống lại Việt Minh Cộng Sản đang áp đặt chủ nghĩa tam vô lên quê hương dân tộc. Thân phận một quân đội một lúc phải chiến đấu chống 2 kẻ thù nghịch: thực dân và Cộng Sản.

Sau hiệp định Genève ngày 20.7.1954, chính phủ Ngô Ðình Diệm, một mặt phải định cư một triệu đồng bào di cư từ miền Bắc, trốn chạy Cộng Sản, một mặt thương lượng với Pháp để giành lại Ðộc Lập cho đất nước. Ðến đầu năm 1956, quân đội Pháp chính thức rút khỏi Việt Nam.

Chính phủ Ngô Ðình Diệm hành xử như một quốc gia độc lập, thiết lập các cơ cấu chính trị hành chánh v.v… và một mặt kiến thiết đất nước, ổn định nhân tâm và nhất là cãi tiến Quân Ðội để đối phó với Cộng Sản Bắc Việt, từ một quân đội với cấp cao nhất là tiểu đoàn, đặt dưới sự lãnh đạo chỉ huy của Pháp đến một Quân Ðội theo mô hình một nước độc lập, được rèn luyện kỹ càng, một kỹ cương theo tinh thần quân đội truyền thống Việt Nam.

Nhưng! Như đầu bài đã nói, Việt Nam mang thân phận nhược tiểu. Khi Hoa Kỳ nhận thấy chính phủ Ngô Ðình Diệm ngày càng tỏ ra độc lập hoàn toàn, một mặt đang trên đà thắng lợi đối với Việt Cộng, Hoa Kỳ với tâm địa con buôn đã cố quyết tiêu diệt Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ngày 1.11.1963, Hoa Kỳ với sự tiếp tay của một số tướng lãnh phản quốc đã tiêu diệt Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và chính thể Việt Nam Cộng Hòa.

Từ sau ngày đảo chính Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, tình trang Việt Nam lâm vào một khủng hoảng chính trị, đảo chánh, chỉnh lý, Hội Ðồng này đến Hội Ðồng khác, mãi cho đến ngày 19.6.1965, Quân Ðội Việt Nam Cọng Hòa đã đứng lên vừa chiến đấu chống Cộng Sản, vừa ổn định tình hình chính trị trong nước, và đến năm 1967 thiết lập nền Ðệ Nhị Cộng Hòa.

Nếu trước năm 1963, Việt Nam Cọng Hòa phải đánh với du kích Việt Cộng do Cộng Sản Bắc Việt thiết lập và chỉ đạo, và Quân dân VNCH ngày càng thắng thế, đặt du kích và lực lượng tỉnh, miền của VC vào thế tàn lụi dần qua “ấp chiến lược” khiến chúng không có lương thực, không có tin tức, bị cô lập khỏi dân chúng y như cá nằm trên cạn, may nhờ cuộc đảo chánh 1.11.1963 phá ấp chiến lược, thả hết tù nhân Cộng Sản VC  mới ngóc đầu trở lại, ồ ạt đưa quân vào miền Nam.

Thì sau ngày 19.6.1965, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nhờ vào tinh thần chiến đấu anh dũng, quả cảm và tinh thần yêu nước thương dân, đã giáng xuống đầu quân Việt Cộng Bắc Việt những đòn chí tử, bảo vệ sự tự do và no ấm cho đồng bào. Vì vậy, người ta không lấy làm lạ, quân đội VNCH đi đâu, dân theo đó và họ liều chết để chạy khỏi những nơi bị Việt Cộng tạm chiếm để rồi sau đó, khi quân đội tái chiếm, người dân lại trở về nhà cũ dưới sự bảo bọc của Quân Ðội.

Những trận đánh tưởng như quân Bắc Việt Cộng Sản đã đè bẹp được quân đội VNCH, nhưng không, Việt Cộng đã không bao giờ tái lập được một Ðiện Biên Phủ thứ 2, Tết Mậu Thân 1968, lợi dụng mấy ngày hưu chiến để đồng bào 2 miền ăn Tết, Việt Cộng đã bất ngờ tấn công các tỉnh lỵ và ngay cả Saigon, thế nhưng lần lượt, Quân Lực VNCH đã đánh bật chúng ra khỏi thành phố, dồn chúng về lại các mật khu với một thiệt hại tưởng như không bao giờ ngóc đầu dậy được. Mặt Trận Bình Long An Lộc với những võ khí hiện đại của Nga Sô và Trung Cộng, với một quyết tâm chiếm cho bằng được với bất cứ giá nào Bình Long – An Lộc để “làm thủ đô” cho “đứa con Mặt Trận Giải Phóng” của Bắc Việt, cũng bị thất bại não nề.

Nhưng, gọng kèm thực dân và Cộng Sản một lần nữa, áp đặt lên dân tộc Việt Nam mà kẻ hứng chịu tất cả bất lợi thảm khốc chính là Quân Lực VNCH.

– Cả thế giới Cộng Sản viện trợ dồi dào gấp 20 lần bình thường,

– “Ðồng Minh Hoa Kỳ” nhất quyết không viện trợ quân trang vũ khí cho Quân Lực VNCH và còn cấu kết với CS Quốc tế, thỏa hiệp bỏ rơi VNCH để mặc cho cả thế giới Cộng Sản dồn mọi nỗ lực tiêu diệt Quân Lực VNCH. Tại sao Hoa Kỳ bức bách Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải phá bỏ Quỹ tiết kiệm của Quân Ðội? Tại sao Hoa Kỳ không viện trợ cho VNCH một máy phát thanh có công suất mạnh như máy của thế giới Cộng sản viện trợ cho Bắc Việt? Chỉ cần trả lời 2 câu hỏi này, chúng ta thấy thực dân Mỹ còn độc ác hơn thực dân Pháp.

Ngày hôm nay, 19 tháng 6 năm 2010, sau 35 năm phải buông súng, người lính Việt Nam Cộng Hòa còn lại gì? Ðó là tinh thần đấu tranh của một quân đội có truyền thống dân tộc, thắng không kiêu, bại không nãn, trước kẻ thù với sức mạnh gấp trăm, ngàn lần, cha ông người lính VNCH đã không sờn lòng, đã đấu tranh quyết liệt và đã giữ vững bờ cõi cho đến hôm nay. Người lính hôm nay không quân trang vũ khí, nhưng cũng có cách chiến đấu để chiến thắng Cộng Sản, người lính, với tinh thần đồng đội, sẵn sàng hy sinh sẽ là những chiến sĩ cách mạng bất bạo động khiến cho vũ khí quân thù trở nên vô dụng. Ðây là một vũ khí thời đại mà các nước Ðông Âu đã dùng để tiêu diệt Ðệ Tam Quốc Tế Cộng Sản. Ðây là lúc Quân, Dân phối hợp chiến đấu. Người lính hôm nay không quên những đồng đội đã nằm xuống để quyết tâm làm cho những hy sinh của đồng đội không phải vô ích. Hoan hô người lính của Quân Lực VNCH, hoan hô tinh thần quân đội truyền thống của Việt Nam.

KIÊM ÁI LÊ VĂN  ẤN

(Tuần báo Tiếng Dân – SanJosé số 416)

Advertisements
Bài này đã được đăng trong KIÊM ÁI LÊ VĂN ẤN và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

One Response to NHÂN NGÀY QUÂN LỰC

  1. tqvn2010 nói:

    Trích:
    – “Ðồng Minh Hoa Kỳ” nhất quyết không viện trợ quân trang vũ khí cho Quân Lực VNCH và còn cấu kết với CS Quốc tế, thỏa hiệp bỏ rơi VNCH để mặc cho cả thế giới Cộng Sản dồn mọi nỗ lực tiêu diệt Quân Lực VNCH. Tại sao Hoa Kỳ bức bách Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải phá bỏ Quỹ tiết kiệm của Quân Ðội? Tại sao Hoa Kỳ không viện trợ cho VNCH một máy phát thanh có công suất mạnh như máy của thế giới Cộng sản viện trợ cho Bắc Việt? Chỉ cần trả lời 2 câu hỏi này, chúng ta thấy thực dân Mỹ còn độc ác hơn thực dân Pháp….

    Khổ quá ! Qúi ví đang sống ờ Mỹ ăn cơm Mỹ mà cứ phán ào ào “thực dân Mỹ còn độc ác hơn thực dân Pháp….” vậy thì về VN mà sống.

    Nên nhớ sau đệ nhị thế chiến quân đội Mỹ hiện diện trên 70 quốc gia và VN là nước duy nhất mà Mỹ phải bỏ rơi mặc dầu VN / Biển Đông đối với Mỹ cho đến hiện tại vẩn là vị trí chiến lược về Quân Sự – Kinh Tế – Chánh Trị còn quan trọng hơn Nam Hàn, Nhật, Phi Luật Tạn…

    Người Mỹ đã phải rời VN vì họ đã thua ở mặt trận Tuyên Truyền – Tình Báo và Nội Tình Nát Bét của VN. Phải hiểu là TT Nixon đi Bắc Kinh là đi xin đầu hàng có điều kiện chớ không phải là bán đứng VN cho TQ. Bán đứng Miền Nam nói riêng và cả nước VN cho TQ chính là CSVN. CSVN phá hoại / xé nát HĐ Paris chớ không phải là Người Mỹ.

    Trong LSVN có 3 Hiệp Định mà đáng lẻ ra không nên có ….nếu VN ta đã không có HCM/HTC và CSVN. Cả 3 HĐ đều bị HCM và Co. xé bỏ cái rẹt …trong khi mực chưa ráo:

    1) HĐ Sơ Bộ ký ngày 6/3/1946: HCM ký HĐ Để được Pháp công nhận và mượn tay Pháp tiêu diết người VN yêu nước. Khi HCM thấy không cần phải câu giờ với Pháp nửa bèn xé cái rẹt HĐ vào cuối năm 1946 với lá Thơ kêu gọi “Toàn Quốc kháng chiến chống Pháp” vào ngày 19/12/1946.

    2) HĐ Đình Chiến Geneve ngày 21/7/1954: Hơn 1 triệu người VN đã rời miền Bắc di cư vào Nam/VNCH và cũng bị HCM xé cái rẹt mở màn cho cuộc chiến tranh Nam-Bắc đẩm máu nhất trong LSVN.

    3) HĐ Paris ký ngày 27/1/1973: Sau khi TQ chiếm được Hoàng Sa VN vào năm 1974. CSVN biết chắc là Mỹ sẽ không can thiệp trở lại nội tình VN, CSVN một lần nửa xé cái rẹt và cho đó là Chiến Thắng Huy Hoàng 30/4..mở đầu cho Sự Ngiệp nam tiến của CSTQ…và trên 3 triệu người VN sống đời lưu vong tị nạn khắp nơi trên thế giới và 1 phần lớn đã bỏ mình vĩnh viễn trong lòng biển đông…cùng với những ước mơ khác vọng Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc….

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s