NHỮNG NGÀY NÀY, 34 NĂM TRƯỚC

Mười hai giờ trưa ngày 30 tháng Tư năm một chín bảy lăm, quân Cộng sản Bắc Việt ngồi xe thiết giáp tiến vào dinh Độc Lập. Tướng Dương Văn Minh – thay Tổng Thống Trần Văn Hương, người mà Nguyễn Văn Thiệu giao tất cả quyền hành cho trước khi ôm vàng đào tẩu, cùng vài nhân viên nữa ra tiếp đầu hàng không điều kiện (*)…

Tướng Minh mặc áo ngắn tay, bỏ ngoài quần, tâm sự với viên hầu cận “những người cách mạng không đeo cà vạt” trước giờ ông ta chờ đợi dâng hiến miền Nam. Tướng Minh nói với tên sĩ quan cao cấp có “bốn bộ đội võ trang đầy mình”:

“Thưa ông sáu, tôi chờ ông từ sáng để trao lại quyền hành cho ông…” Tên này đáp cộc lốc và “mày tao” với tướng Minh:

“Mày còn dám nói tới chữ trao quyền. Mày chỉ là kẻ tiếm quyền, là bù nhìn. Mày không trao quyền lại cho chúng tao. Chúng tao dùng súng để lấy lại cái quyền ấy. Tao nói rõ  tao không phải là một cấp tướng, tao là trung tá chính ủy. Kể từ lúc này tao cấm mày ngồi.”

Mặt tướng Minh tối sầm lại. Cái lối nói hung bạo và khinh miệt ấy làm ông ta nhớ lại rằng ông ta đã nói chuyện với bọn người Bắc, chứ không phải với các người Mặt Trận Giải Phóng. Chỉ có xe tăng, sĩ quan và lính Bắc của Lữ đoàn 26 đang ở trước mặt ông ta. Bọn Bắc Kỳ! Chỉ thấy bọn Bắc Kỳ mà ông ta chưa bao giờ chịu nổi và bọn ấy chỉ coi ông ta là kẻ bại trận, chứ không phải là bạn. Tướng Minh lại cố gắng ra vẻ thân thiện:

“Chúng tôi đã sữa soạn bữa ăn tiếp đón các ông. Có món yến, súp cua…”

Tên Trung Tá Bắc Kỳ cắt lời ông ta bằng một cử chỉ hạ cấp:

“Mày và những đứa khác, tụi mày bị bắt rồi. Giữ lấy cái lối ăn tư sản của mày. Chúng tao sẽ dọn cho tụi mày một bữa cơm chiến tranh: Một nắm cơm và một hộp thịt mặn.” (**)

*

Câu chuyện sau đây xảy ra một năm, sau ngày hoạt cảnh trên xảy ra. Khi đó, những người miền Bắc thắng trận “bằng một mẻ lưới đã hốt trọn ổ quân, công, cán, chính của miền Nam” nhốt vào những trại giam mà họ gọi bằng cái tên trá hình là “trại cải tạo”.

Chuyện này xảy ra ở phân trại K.7, trại giam Suối Máu thuộc thành phố Biên Hòa. Vì đây là một chuyện có thực, theo lời của người kể chuyện, xin tạm gọi tên nhân vật chính của câu chuyện là X. X. là sĩ quan cấp Tá của Lực Lượng Biệt Cách Dù , binh chủng hào hùng của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, đã được ca tụng qua hai câu thơ:

“An Lộc địa danh ghi chiến tích

Biệt Cách Dù vị quốc vong thân!”

Như đa số những sĩ quan miền Nam bại trận, trong trại tù, X. vẫn giữ được tư cách của một sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Hầu hết những sĩ quan miền Nam bại trận đều coi khinh những hành động chỉ điểm của những kẻ bán rẻ lương tâm. Nói nào ngay, trong “mô hình xã hội đã tố cáo, phản bội, vu khống người khác” – như một nhà văn của chính chế độ Việt Cộng đã thú nhận, thì việc làm của những sĩ quan miền Nam nhẹ dạ, cả tin vào những lời xảo mị, tàn phá nhân  phẩm người tù bằng những thủ đoạn bỏ đói, đánh đòn cân não để hạ giá người tù xuống ngang hàng với con vật của hệ thống nhà tù Việt Cộng – một hệ thống tổng hợp những thủ đoạn tinh xảo, dã man nhất của những ngành tình báo K.G.B. của Liên Sô và Trung Ương Tình Báo Sở của Trung Cộng, cũng là chuyện thường tình.

Trong những luyện ngục đó, những kẻ sống bình thường cũng đã là “anh hùng” lắm rồi!

Trong tổ, đội do Việt Cộng phân chia để kiểm soát, X. là một người rất được lòng anh em. Anh là mẫu người “khi làm quan ta không lấy làm vinh, khi làm tù ta không lấy làm nhục.” Không bao giờ anh em nghe anh trách móc, chửi rủa những người lãnh đạo bất tài, vô tướng đã lường gạt kêu gọi binh sĩ ở lại tiếp tục chiến đấu không được hèn nhát chạy trốn như lũ chuột, nhưng chính những người này lại là những con chuột chù đã bỏ thành mà chạy trước lúc giặc vào. Anh cũng chẳng bao giờ than van gì về đời sống khổ cực, thiếu thốn trong trại cải tạo.

Thế cho nên những việc xảy ra cho X. trước ngày những người miền Bắc thắng trận ăn mừng lễ chiến thắng năm đó, mọi người đều tỏ vẻ ái ngại, lo lắng cho anh. Số là vào trưa ngày 28 tháng 4 năm 1976, cán bộ quản giáo vào trại với hai vệ binh có võ trang, cầm giấy đọc tên gọi X. đi “làm việc.”

Trước đó ít lâu, một số người cũng bị gọi tên đi “làm việc” rồi sau đó, đã bị kết án tử hình vì tội “tiếp tay đế quốc Mỹ chống phá cách mạng” như trường hợp Lê Đức Thịnh, cuự Đại úy Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, như cựu Trung úy Nguyễn Ngọc Trụ, giảng viên trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt và nhiều người khác nữa.

Ban chỉ huy Đoàn 775, tức Trung đoàn đặc biệt được thành lập vào tháng 7 năm 1975, đặc trách việc cải tạo tù binh, nằm cạnh quốc lộ 1, là những dãy nhà tiền chế trước đây được Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa dùng để giam giữ tù binh Bắc Việt trước khi trao trả theo hiệp định Paris.

Buổi trưa, X. được hai vệ binh có võ trang đưa vào trại. Và buổi chiều lại gọi đi “làm việc” rồi lại được đưa vào trại. Qua ngày 29 lại hai buổi trưa, chiều được gọi đi “làm việc” dưới những họng súng A.K.

Một số bạn bè được X. cho biết là anh được đưa lên Trung Đoàn và được cho ăn “bồi dưỡng.” Thức ăn hàng ngày ở trại cải tạo Suối Máu lúc đó là su su, cà rốt, củ cải trắng nấu với nước muối, thỉnh thoảng vào những ngày lễ lạc của Việt Cộng mới có được chút ít thịt. Có người đã “cải thiện” bữa ăn bằng cách bắt cắc ké, bắt chuột và làm bẫy gài chim én. Thế nên việc Ban chỉ huy Trung Đoàn 775 mời X. lên “bồi dưỡng” chẳng ai hiểu được lý do, ngay cả X. Mỗi người góp một ý kiến. Ý kiến nào cũng bi thảm. Riêng X. vẫn ung dung:

“Tới đâu thì tới. Tớ chẳng làm được như cái ông gì khi được giặc mời cứ bình tĩnh gắp óc người vừa ăn vừa uống rượu, nhưng tớ cũng chẳng có gì phải lo lắng. Mấy ổng muốn bắn, muốn giết gì thì cũng đành chịu thôi. Bọn mình bây giờ cũng như Kiều đã tới sông Tiền Đường.” (1)

Sáng ngày 30 tháng 4, X. lại được cán bộ quản giáo và hai vệ binh có võ trang gọi lên Ban Chỉ Huy Trại “làm việc.”

Sau đây là hoạt cảnh và những lời đối thoại ở Ban Chỉ Huy Trung Đoàn 775 giữa X. và “những người cách mạng”, theo lời kể lại của X.

Lời Trung tá Chính ủy Trung Đoàn 775 nói với X. khi cán bộ quản giáo đưa X. vào ban Chỉ Huy Trại:

“A… chào anh X., hôm nay chúng tôi, những người đại diện Đảng và Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa, theo đúng chính sách khoan hồng nhân đạo đối với những người lầm đường, lạc lối đã biết ăn năn, hối cải…”

Viên chính ủy ngập ngừng một lúc rồi lại nói tiếp:

“Sau đây chúng tôi sẽ cho anh gặp đồng chí Y., bố của anh từ miền Bắc vào đây thăm anh trong dịp đồng chí vào miền Nam công tác. Đề nghị anh trình bày với đồng chí Thứ Trưởng là chế độ ăn uống trong trại rất tốt – như chúng tôi đã bồi dưỡng anh hai ngày vừa qua.”

Viên chính ủy có vẻ ngần ngừ, rồi nói tiếp:

“Nói chung là việc ăn uống của toàn trại cũng chưa được… tốt lắm. Đó là khó khăn chung bởi vì ta chỉ mới tiếp thu miền Nam mới có một năm, địch và đế quốc Mỹ đã để lại cho ta biết bao nhiêu là khó khăn. Mặc dù đã cút chạy nhưng đế quốc Mỹ vẫn chưa từ bỏ dã tâm xâm lược, chúng đã dùng đủ mọi thủ đoạn…”

Viên chính uỷ gầm gừ:

“Đúng là cái bọn đế quốc… chết đến đít mà vẫn còn cay. Như vừa qua anh đã biết đấy: Chúng cho người lẻn vào phá hủy kho đạn Long Bình.”

Y thở dài:

“Mà thôi… bỏ qua mấy chuyện đó đi. Anh X. nhớ nhé, nếu đồng chí Thứ Trưởng có hỏi han gì về chuyện ăn uống thì anh nói hộ một tiếng, nhé.”

Sau đó, X. được viên chính ủy đích thân đưa qua phòng tiếp tân. Trong phòng có hai người đàn ông, một già, một trẻ. Người đàn ông lớn tuổi mặc thường phục đứng dậy khi viên chính ủy Việt Cộng và X. bước vào. Họ bắt tay nhau và, sau đó, viên Trung Tá chính ủy xin phép rút lui để “đồng chí Thứ Trưởng và anh X. được tự nhiên.”

Khi viên chính ủy đi khỏi, không khí trong phòng trở nên ngột ngạt. Người đàn ông mặc thường phục đầu tóc bạc phơ, gương mặt khắc khổ có vẻ hao hao giống X. Người trẻ tuổi mặc quân phục của Quân Đội Nhân Dân miền Bắc, trên cổ có đính cấp bậc Thiếu úy, trên đầu úp chụp chiếc nón cối có đính huy hiệu ngôi sao vàng trên nền đỏ màu máu, dù lúc bấy giờ là đang ở trong phòng.

Người đàn ông lớn tuổi tằng hắng, đôi mắt hấp háy sau làn kính trắng, bắt đầu câu chuyện:

“Nhân dịp vào đây công tác, nhân tiện bố ghé thăm mẹ của anh, được bà ấy cho biết là anh đang cải tạo ở đây, bố đến thăm anh…Như anh đã biết, đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Hồ chủ tịch đã đánh thắng hai đế quốc Pháp và Mỹ để thu giang sơn về một mối. Đất nước ta từ nay sạch bóng quân thù. Bằng cuộc cách mạng giáo dục song song với cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, Đảng và Nhà Nước ta sẽ đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa mà không cần phải quá độ qua chủ nghĩa tư bản…”

Người đàn ông lớn tuổi chợt ngừng nói khi nhìn thấy X. đang nhìn mình có vẻ ngạc nhiên. Giọng nói của ông ta bớt hăm hở:

“Anh cũng biết là cách mạng bao giờ cũng khoan hồng nhân đạo. Về những sai lầm của anh trong quá khứ, anh phải sửa chữa bằng việc cải tạo bản thân. Đây là chính sách chung, bố không thể giúp gì cho anh được mặc dù mẹ anh có yêu cầu bố giúp đỡ cho anh. Anh cố chấp hành nghiêm chỉnh chính sách của Đảng và Nhà Nước để sớm trở thành một công dân lương thiện của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.”

Người đàn ông lớn tuổi ngừng nói. Ông thấy X. vẫn ngồi bất động trên ghế, nhìn ông với ánh mắt lạ lùng, khó hiểu, chợt gương mặt anh ta có vẻ tươi tỉnh, anh ta gật gù:

“Thưa bố, con biết. Con xin nghe và làm theo lời chỉ dạy của bố.”

Sau câu nói, X. ngập ngừng một lúc, rồi quay sang hỏi người lớn tuổi:

“Thưa bố, con có thể nói chuyện với bố bằng Pháp ngữ hoặc Anh ngữ?”

Người đàn ông lớn tuổi được viên Trung tá chính ủy gọi là đồng chí Thứ Trưởng ngạc nhiên nhìn X.. Ông ta không ngờ cái thằng lỏi tì lúc ông đi theo cách mạng của cái thuở “chín năm đốt đuốc soi rừng”, vợ ông còn ẵm ngửa trên tay, sau đó, vợ của ông vì mất liên lạc với chồng đã theo gia đình bồng con lên tàu há mồm di cư vào Nam và ở vậy nuôi con cho tới ngày miền Nam được miền Bắc “giải phóng” mà nó đã được nên người tới như vậy. Thì ra bà ấy cũng tài lắm chứ có chơi đâu. Ông ngần ngừ một lúc rồi nói với X. với giọng nói có vẻ thân mật, khác hẳn với cái giọng-nói-của-Đảng-và-Nhà-Nước:

“Con có thể nói chuyện với bố bằng tiếng Pháp.”

X. bắt đầu hỏi về tình trạng gia đình, sinh hoạt ngoài miền Bắc. Người bố nhìn đứa con đã mấy chục năm xa cách với cái nhìn thiện cảm. Ông thực tình kể lại những chính sách, những đãi ngộ của Đảng và Nhà Nước đối với ông – một Thứ Trưởng của một Bộ trong chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Người bố kể rất nhiều chuyện với giọng nói ngày càng thân mật. Đứa con chỉ ngồi im lắng nghe., thỉnh thoảng anh ta lại gật gù. Khi người bố dứt lời, X. chậm rải nói:

“Thưa bố, qua những điều bố vừa cho con biết thì theo con, con thấy là Đảng và Nhà Nước của bố có chiến thắng được cái gì đâu.”

Người bố sửng sốt nhìn đứa con, ông tưởng chừng như tai mình nghe lầm. X. vẫn tỉnh bơ nói tiếp:

“Thưa bố, xin bố đừng giận con về những điều con nói thực với bố. Theo những điều bố vừa kể thì con thấy là Đảng và Nhà Nước của bố không có chiến thắng một cái gì hết. Nếu nói mục đích  của chủ nghĩa Cộng sản là đem lại cơm no, áo ấm cho dân cho nước; thì Đảng và Nhà Nước của bố trong mấy chục năm qua đâu có thực hiện được một chút nào đâu.”

Người bố tằng hắng, định lên tiếng nhưng X. đã nói tiếp:

“Con xin lỗi bố, xin bố cho phép con trình bày ý kiến của con. Con sẽ không nói gì về những cái cao xa của những quốc tế vô sản, của chủ nghĩa tư bản gì hết, những điều con nói với bố là những cái thiết thực trước mắt. Điển hình như những đải ngộ mà Đảng và Nhà Nước đã dành cho bố: một Thứ Trưởng của Chính Phủ. Con có nghe bố nói là với chức vụ Thứ Trưởng mỗi tháng bố sẽ được cấp phát 2 ký thịt lợn và nếu muốn mua thêm thì phải trả thêm tiền. Và nếu muốn mua nhiều hơn nữa thì phải mua với giá chợ đen…”

Người bố vừa định xen vào nhưng X. đã tặc lưỡi nói:

“Xin bố đừng ngắt lời con. Những điều con nói đây là con nói trong tình cảm gia đình, nói bằng trái tim, bằng tình thương, chứ không phải nói bằng chủ nghĩa giáo điều. Dĩ nhiên bố có quyền đề nghị bỏ tù con lâu hơn vì nhưng cái gọi là tư tưởng phản động, có điều con chỉ xin bố tin rằng những điều con vừa trình bày với bố là Sự Thật, xuất phát tự đáy lòng của con. Theo ý kiến của riêng con, nếu nói mục đích của nhà cầm quyền là đem lại cơm no, áo ấm cho dân thì miền Nam đã có được từ khuya. Ở miền Nam, con xin lỗi bố, không cần phải là Thứ Trưởng như bố, từ anh đạp xích lô đến Tổng thống Thiệu, có tiền muốn mua bao nhiêu thịt lợn cũng được, không cần phải cấp bậc, chức vụ, không cần phải chợ đen, chợ đỏ gì cả.”

X. tặc tặc lưỡi:

“Con chỉ nói một thí dụ nhỏ thôi. Con mong rằng nếu có những gì bố không đồng ý, xin bố tha lỗi cho con vì mẹ con có dạy rằng: “Yêu ai cứ bảo là yêu. Ghét ai cứ bảo là ghét. Dù ai ngon ngọt nuông chiều. Dù ai cầm dao dọa giết. Cũng không nói ghét thành yêu!” (3).

Người bố nhìn đứa con. Đôi mắt sáng như sao băng của đứa con chiếu thẳng vào người bố:

“Thưa bố, con rất biết ơn về việc bố đã còn nghĩ đến con, đã vào đây thăm con và dạy dỗ con. Con xin bố tha lỗi về việc trong tờ khai lý lịch con đã khai là bố vô danh, dù mẹ con có cho con biết tin tức về bố. Con xin lỗi bố con khai như vậy vì con không muốn ảnh hưởng đến sự nghiệp của bố. Việc con làm, con chịu, vì con tin là con đã đi đúng đường. Bố không cần phải bận tâm gì về việc có can thiệp được hay không can thiệp được cho con.”

X. ngừng lại một lúc lâu, sau cùng, anh bậm môi, nói với giọng đanh thép:

“Có một điều con xin được phép nói với bố là Đảng của bố và bố đã đi lầm đường!”

Gương mặt của người đàn ông lớn tuổi bỗng trở nên tối sầm. Ông ta, ngay từ lúc đầu khi viên chính ủy và đứa con bước vào, ông ta đã cảm thấy có một cái gì không ổn đang rình rập ông. Ông không bao giờ nghĩ là cái thằng con vừa gặp lại sau mấy chục năm xa cách nó lại dám nói với ông như vậy. Nó là “thằng tù” mà! Khả năng của ông, ông có thể can thiệp cho nó về sớm. Phép tắc nào mà không có một ngoại lệ. Sở dĩ ông không muốn đứng ra bảo lãnh cho nó vì ông có ý định bắt cái ghế Bộ Trưởng trong kỳ đại hội Đảng sắp tới. Khi vào đây ông nghĩ là khi gặp ông thằng con nó sẽ khóc lóc, năn nỉ ỉ ôi để ông can thiệp cho nó về sớm, chẳng ngờ, ông gặp thằng con ngoài cả cái ý nghĩ của ông. “Đảng của bố và bố đã đi làm đường!” Con cái láo lếu thật! Nhưng mà rõ ràng những thực tế nó dẫn chứng ông đâu có thể phủ nhận được. Lịch sử đâu thể đem căng trên một cái bàn căng. Lịch sử là lịch sử. Duy vật sử quan là một cưỡng ép. Người đàn ông lớn tuổi chợt giật mình: Chỉ mới có thằng lỏi mà mình đã chao đảo, thì còn nói gì tới những thằng xếp của nó. Ông buông thỏng hai tay.

Vừa lúc đó thằng con tiếp lời:

“Thưa bố, con nhờ bố về nói dùm với mẹ là xin mẹ tha lỗi cho con về việc trong những ngày tuổi mẹ đã xế bóng con không thể sớm hôm săn sóc mẹ. Con cũng nhờ bố cho con kính gửi lời thăm dì…”

Ông bố ngồi im, chết cứng trước những sợi dây tình cảm mà thằng con nó vừa buộc cứng vào ông.

Quay qua viên thiếu úy Quân Đội Nhân Dân, X. hỏi ông bố:

“Thưa bố, anh này là ai?”

Người bố cựa quậy trong cái vỏ vô hình êm ái đang bao vây lấy ông:

“Đây là Z., em cùng cha khác mẹ với con đấy. Sau khi mẹ đem con di cư vào Nam, bố vì lý tưởng đi hoạt động cách mạng, do đó bố được Đảng cho phép cưới một người vợ khác. Bố đã kết hôn với dì con. Và bố có thêm hai đứa con.”

X. quay nhìn viên thiếu úy bộ đội, làm ra vẻ ngạc nhiên:

“Thế ra là chú Z. đấy à. Chú Z. ăn học tới đâu rồi nhỉ?”

Viên  thiếu úy bộ đội lí nhí một điều gì đó nghe không rõ. X. nói tiếp:

“Theo anh được biết là ở đâu cũng vậy: “Tiên học lễ, hậu học văn.” Chú là sĩ quan Quân Đội Nhân Dân chắc chú cũng phải có học. Chú theo bố vào đây thăm anh, anh rất cám ơn. Có điều anh nhắc cho chú biết: gia đình ta không có cái thói mất dạy trẻ nhỏ mà hỗn hào vô lễ với người lớn. Em gặp anh cả mà chẳng biết mở miệng chào.”

Ông bố lặng người. Viên thiếu úy bộ đội đỏ mặt. X. tỉnh bơ nói tiếp:

“Lần này anh tha lỗi cho chú đấy. Nhưng lần sau là chú liệu hồn đấy nhé. Gia đình ta vốn nề nếp từ trước tới giờ. Mẹ vẫn thường nhắc nhở anh những điều lễ giáo mà bố đã dạy dỗ, dặn dò mẹ.”

Trầm ngâm một lúc, X. nói tiếp:

“Chú có ghé nhà anh chú biết đó. Trước khi phải vào đây, anh may mắn hơn một số người khác. Với cái trại nuôi heo giống ở Thủ Đức và những của nổi, của chìm mà anh để lại ở nhà, anh tin rằng mẹ và vợ anh tức chị dâu của em không đến nổi vất vả. Bố và chú lúc trở về, anh xin bố và chú ghé nhà. Chú thích gì, dì và chú em ở ngoài Bắc nếu thích cái gì như đồng hồ, radio, cassette, xe đạp… em nói với chị chị sẽ mua. Nhờ em nói với dì, với chú em của chúng ta… đây là quà tặng của anh.”

X. quay sang ông bố:

“Bố thích gì cứ nói mẹ mua, con biết là với tài sản của con gầy dựng với sự trợ giúp của mẹ và vợ con, con có khả năng tặng bố, dì và các em những món quà theo ý thích…”

*

Câu chuyện “Gặp gỡ tháng Tư” chấm dứt ở đây. Như đã nói đây là một chuyện có thực.

Vào tháng Chạp năm 1978, có cuộc nổi dậy của toàn thể 7K. tức bảy phân trại của trại cải tạo Suối Máu. Không biết tự lúc nào, các hàng rào kẽm gai ngăn cách giữa các phân trại đã bị cắt đứt. Trong đêm Giáng Sinh năm đó, hàng vạn tù nhân của bảy phân trại đều tập họp tại hội trường và tất cả đều cất cao giọng hát hát bài mừng Chúa giáng sinh.         

Quân Khu 7 đã huy động xe tăng, thiết giáp bao vây trại cải tạo Suối Máu, cũng như trước đó đã bao vây các nhà thờ thuộc khu vực Hố Nai, Gia Kiệm.

Những người cầm quyền đã ra lệnh bắn xối xả vào hàng vạn tù nhân đang cất cao giọng hát mừng Chúa ra đời: “Trong đêm Noel lạnh lẽo Chúa sinh ra đời. Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá bên máng lừa…” Có người bị trúng đạn lòi ruột, máu chảy ròng ròng, lấy tay nhét ruột vào, ôm bụng hát tiếp. Mặc súng nổ, những người tù vẫn tiếp tục cất cao giọng hát mừng Chúa ra đời. Tiếng hát trong đêm vang đi rất xa. Sau này, các cán bộ quản giáo có mặt trong đêm hôm  đó đã nói:

“Các anh… kinh thật. Chúng tôi không hiểu tại sao các anh “cuồng tín” tới như vậy. Đạn nổ ầm ầm thế mà các anh vẫn tỉnh bơ hát bài mừng Chúa ra đời. Chúa các anh là cái quái quỷ gì mà lại được các anh ca tụng đến thế. Chúa các anh có đem các anh ra khỏi vòng rào kẽm gai đâu. Có điều phải nói là chúng tôi… sợ các anh thật!”

Những người tù không trả lời những cai tù bằng lời nói, họ trả lời bằng việc làm; bởi, không có căn bản để thảo luận giữa những kẻ vô thần và những người hữu thần. Bởi, chỉ có sự bình đẳng giữa những người đồng đẳng.

Người được toàn thể tù nhân bảy phân trại bầu lên để chỉ đạo tổ chức mừng Giáng Sinh năm đó là X.

Anh đã bị biệt giam trong conex nhiều tháng trời. Những cai tù đã tra tấn, đánh đập, dọa nạt, rúng ép để anh phải khai đồng bọn. Câu trả lời duy nhất của anh:

“Đồng bọn của tôi là tất cả trại viên 7 phân trại cũng như tất cả người dân miền Nam không đồng ý về việc các ông đã áp đặt chủ nghĩa cộng sản lên đầu, lên cổ chúng tôi.”

*

Người viết lại câu chuyện này không có ý làm-công-việc-văn-chương-chữ-nghĩa vốn ngày càng nhẹ nhổm nơi trường văn, trận bút ở hải ngoại. Đây là một câu chuyện có thực, người viết chỉ nghe sao ghi lại vậy, không thêm thắt, cường điệu. Đoạn (*), người viết ghi lại ý kiến của cố học giả Nguyễn Hiến Lê về cái nhìn của ông đối với việc sụp đổ của chế độ Đệ Nhị Cộng Hòa. Đoạn (**), người viết trích từ quyển “Sàigòn” của ông Phạm Kim Vinh. Có thể vì ông Phạm Kim Vinh dịch lại từ sách ngoại quốc nên mới có cái chuyện mày, tao, chi, tớ giữa ông tổng-thống-thời-cơ Dương Văn Minh với ông Đại tá chính ủy Việt Cộng Bùi Tín – người vừa làm ồn ào hải ngoại với cái kiến nghị của một công dân!

Người viết cũng xin không có ý kiến về những việc này. Xin để tất cả cho lịch sử phê phán. Bởi, lịch sử vốn nghiêm khắc và công bằng. Một điều chắc chắn là Thượng Thư Bùi Bằng Đoàn, bố của Đại Tá Việt Cộng Bùi Tín, không thể ngồi chung chiếc chiếu lịch sử với nhà ái quốc Phan Bội Châu!

Theo lời người kể chuyện, X. đã được trả tự do sau mười ba năm cải tạo. Thứ Trưởng Y., bố anh, vài tháng sau khi đi thăm anh về đã từ chức. Và viên thiếu úy Quân Đội Nhân Dân, người em cùng cha khác mẹ với X. cũng đã nộp đơn xin phục viên. Tất cả gia đình họ đã vào miền Nam. Theo lời người kể chuyện, X. đã từ chối qua Mỹ theo chương trình H.O. Anh nói với người kể chuyện về một thần thoại kể về một vị thần chỉ có sức mạnh khi đứng trên mặt đất, khi bị nhấc lên khỏi mặt đất thì vị thần đó sẽ không còn sức mạnh.

Người kể chuyện cũng cho biết là gia đình của X. bây giờ rất hòa thuận. Người bố và đứa em đều công nhận là họ đã lầm đường. Họ đang cùng nhau chung bước trên con đường Cách Mạng Quốc Dân. Họ và những người cùng đi với họ quyết lấy máu của mình để viết nên trang sử mới của dân tộc.

Thái độ sống của họ sẽ là điều mà những kẻ loay hoay lẩn quẩn giữa sống và viết, không dám sống điều mình viết phải cụp đuôi, cúi đầu. (3).

Họ là những người đã chọn ở lại để sống, chết với quê hương.

(1)   Câu nói của nhà văn Doãn Quốc Sĩ nói với Vũ Hạnh sau ngày 30-4-1975

(2)   Thơ Phùng Quán.

(3)   Bài Tự Phận Ca viết về anh hùng Nguyễn Cao của Tường Vũ Anh Thy.

 NGUYỄN THIẾU NHẪN                                                                                                

  San Jose 1992

Advertisements
Bài này đã được đăng trong NGUYỄN THIẾU NHẪN và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

2 Responses to NHỮNG NGÀY NÀY, 34 NĂM TRƯỚC

  1. Quoc Han nói:

    Tôi thì chỉ nghe đâu đó tiếng của những cô gái bị bọn Hải tặc cưỡng hiếp, tôi nếm được mùi mặn đâu đó của những người chồng nhìn vợ mình bị cưỡng hiếp ! Tôi nhức đầu bởi những tiếng la hét cũng những người Vượt biên bị bắn giết ! Tôi còn nghe đâu đó tiếng văng vẳng :”cứu tôi với”!
    Tôi vẫn còn thấy những hình ảnh những con người Vượt biên đu bám trên một con tàu nhỏ ! Tôi còn thấy đâu đó những hình ảnh Thuyền nhân tự sát với lá cờ vàng phủ trên người dòng chữ:”thà chết còn hơn về Việt Nam” !
    Tôi vẫn kinh khiếp những hình ảnh mà Người Việt ta phải chết ! Họ phải chết không vì lý do gì cả ! Họ là nạn nhân của lòng tham !
    Tôi vẫn nghe đâu đây tiếng oán than, gào thét của những người lính bị đánh đập, kéo lê !
    Tôi uất hận, tôi nghẹn ngào ! Tôi thương cho số phận con người Việt Nam !

    Tôi chỉ muốn nói với những người Cộng Sản một câu thôi:
    ” Vì sao các anh vì Quyền lợi, Lòng tham mà nỡ đưa Dân Tộc Việt Nam vào một cuộc chiến vô nghĩa ! Bị Thế giới cười chê ! Những con dân Việt bị chết oan ! Việt Nam tụt hậu !
    Vì sao các anh vì một chút miếng ăn, vì quyền lợi mà các anh chấp nhận làm tay sai cho một lũ Giết người ?
    Tôi nghĩ đâu phải các anh không nhìn thấy ? Các anh chịu làm như vậy thật sao ? Sao các anh không vì Dân Tộc mà các anh lại vì Đảng ?”

    Dân Tộc không cần Đảng ! Nhưng Dân Tộc cần các anh !
    Các anh không nên bán đứng Dân Tộc !
    Nếu trong lương tâm các anh còn một chút Tính Người ! Lòng Tự Tôn ! Lòng Tự Hào Dân Tộc ! Các anh không nên đi bằng đầu gối nữa !

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s