TỐ HỮU: QUẢ BÍ TRÁI MÙA!

Khi nhà thơ Tố Hữu qua đời, nhiều người làm văn học nghệ thuật đã lên tiếng về Tố Hữu. Từ bên Pháp, Đặng Tiến, qua đài BBC, đã thọc ống đu đủ xum xoe ca tụng chữ “thắm” trong câu “Tháng tám mùa Thu xanh thắm” của Tố Hữu – cứ như một… “đối tượng Đảng” không bằng.

Theo nhà thơ Nguyễn Chí Thiện thì, vì ông Đặng Tiến không hiểu tiếng Việt mới khen nhặng sị chữ “thắm” chứ ngôn ngữ Việt Nam chỉ có “xanh thẫm” chứ làm gì có “xanh thắm”. Còn chữ “mùa Thu xanh thắm” nếu đúng thì đó là tiếng nói nhân dân vẫn nói chứ có gì là nghệ thuật đâu. Cũng theo nhà thơ Nguyễn Chí Thiện thì Tố Hữu là “con chim đầu đàn của một nền văn thơ nô dịch, một nền văn chương viết trong cũi sắt.” Cũng theo nhà thơ Nguyễn Chí Thiện thì cuộc đời Tố Hữu có thể nói là “một chuỗi làm thơ, nhưng là một loại thơ rất ô nhục.” Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã dẫn chứng những bài vè rất “cao cường” của người dân đã đáp ứng lại với những vần thơ nô dịch của Tố Hữu. Thí dụ như khi Tố Hữu nhố nhăng ca tụng Liên Sô khi “Ga-ga-rỉn bay vào vũ tru” – nói theo cách nói của nhà thơ Bút Tre – có mang theo Phạm Tuân (thay vì trước đó đàn anh Liên Sô mang theo con chó Leika), bằng câu thơ “đôi dép lốp bước lên tàu vũ trụ” thì người dân miền Bắc đã đốp chát bằng mấy câu thơ:

“Phạm Tuân quê ở Thái Bình

Quê hương đói khổ dứt tình bỏ đi

Sao không xin gạo, xin mì

Bay lên vũ trụ làm gì hỡi Tuân?”

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện cũng cho biết trong đời làm thơ Tố Hữu rất mị dân như trong bài thơ “Bầm ơi,” Tố Hữu tỏ ra thương xót những phụ nữ già ở nông thôn đau khổ khi viết những câu thơ:

“Bầm ơi! Có rét không bầm?

Hiu hiu gió núi, lâm thâm mưa phùn

Bầm ra ruộng cấy bầm run

Chân bước dưới bùn, tay hái mạ non.”

Thì người dân trả lời Tố Hữu bằng những câu thơ mỉa mai, cay độc như sau:

“Bầm ơi! Có rét mặc bầm

Volga con cỡi, gà hầm con sơi.

Con đi vui lắm, Bầm ơi

Xin Bầm cứ ở nhà ngồi nhá khoai!”

Và nhà thơ Tố Hữu cũng đã làm thơ ca tụng các Bác Lê, Bác Sít, Bác Mao, Bác Hồ.

Về “sự nghiệp ca tụng Bác Lê, Bác Sít và các Bác khác,” theo Lão Móc thì, nhà thơ Tố Hữu là một con người nghĩa nhân, chung thủy.

Xin quý độc giả đừng có vội mắng “Việt kiều” Lão Móc bắt chước Việt-kiều-yêu-nước Đặng Tiến xum xoe bợ đỡ cai thầu của “nền văn chương cũi sắt” là Tố Hữu để được ông Nguyễn Bá Chung, người đã tự khoe là đã phải đóng tiền hối lộ để được đi du học trong lúc những người cùng lứa tuổi với ông phải đổ mồ hôi và xương máu để bảo vệ chế độ tự do ở miền Nam, vận động với Trung tâm William Joiner để viết “căn cước đỏ” cho người Việt Quốc Gia tỵ nạn Cộng Sản ở giai đoạn 2 – như Việt-kiều-yêu-nước Đặng Tiến.

Lão Móc nói nhà thơ Tố Hữu là một con người nghĩa nhân, chung thủy là có lý do.

Như chúng ta đã biết, Tố Hữu ngoài mấy câu thơ lố bịch:

“Thương cha, thương mẹ, thương chồng

Tương mình thương một, thương ông thương mười”

khóc Sít-ta-lin chết vào năm 1953, còn có mấy câu thơ “nâng bi” Lénin rất nặng mùi nô bộc như:

“… Hôn dùm anh nền đá lát công trường

Nơi yêu dấu Lénin từng dạo bước.”

Ở các quốc gia thuộc Liên Sô cũ trước đây có rất nhiều công trình mang tên Lénin, và dĩ nhiên cũng có rất nhiều tượng của Người được dựng lên khắp chốn. Chuyện đó rất dễ hiểu bới vì Người, theo các sách vở của nhà nước ta, là “cha đẻ của cuộc Cách Mạng Tháng Mười Nga vĩ đại”, là “người sáng lập ra Nhà nước Dân chủ Nhân dân đầu tiên trên thế giới.”

Thành phố lớn thứ hai của Liên Sô mang tên Người. Ở Moscow có quảng trường mang tên Leninsky mà Tố Hữu đã từng đòi hôn… “nơi yêu dấu Lénin từng dạo bước.” Vô số những con đường mang tên Lénin, những cung văn hóa mang tên Lénin, những viện bảo tàng mang tên Lénin, những nhà máy mang tên Lénin, những cây cầu, những phi trường mang tên Lénin… Còn nếu nói về những bức tượng của Người thì nhan nhản khắp nơi, hang cùng, ngõ hẹp nào cũng có.

“… Nếu phải liệt kê đầy đủ các công trình mang tên Người trên toàn Liên Sô, có lẽ phải nhiều quyển sách mới đủ… Chứng tỏ người được toàn dân Liên Sô yêu mến và biết ơn sâu xa…” (Phan Định, Lê-nin và tuổi trẻ, Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội, 1981, trang 25, 26).

Vào thời điểm 1981, lúc quyển sách “Lê-nin và tuổi trẻ” của tác giả Phan Định được xuất bản, chỉ riêng một đoạn trên đây đã mang một phần rưỡi sự thật.    

Sự thật là muốn liệt kê hết các công trình mang tên Lénin phải cần đến một quyển tự điển. Đúng. Đó là một sự thật. Còn phân nửa sự thật kia là chuyện toàn dân Liên Sô yêu mến và biết ơn sâu xa. Điều này vào năm 1981 chưa được kiểm chứng rõ ràng, chuyện Người được toàn dân Liên Sô yêu mến và biết ơn tới mức nào chưa ai biết. Làm sao ta có thể biết người khác suy nghĩ điều gì trong đầu, nếu họ không nói ra điều ấy?

Thế nên ta chỉ tạm cho cái phần sau đoạn viết của tác giả Phan Định chứa được phân nửa sự thật. Nhưng hỡi ơi, nếu phân nửa cái hot dog vẫn là hot dog và người ta có thể sơi nó một cách ngon lành thì phân nửa sự thật lại không thể là sự thật.

Mười năm sau khi tác giả Phan Định bóp trán chế tạo ra lòng yêu mến và biết ơn sâu xa đối với Lénin thì “Tổ quốc Liên Sô” của ông Phan Định tan rã. Người dân của các nước thuộc Liên Sô cũ đã thể hiện lòng yêu mến và biết ơn sâu xa đối với Người bằng cách cho dẹp các bức tượng của Người, xóa tên Người trên hầu hết các nơi, kể cả “thành phố Léningrad rực rỡ tên vàng” cũng chung số phận.

Chuyện xóa tên Người khắp Liên Sô rất tốn tiền. Chỉ riêng trên nước Nga, số phí tổn này ước tính là 275 triệu dollars. Nhưng cho tới bây gờ, người ta mới thấy rằng con số ấy chưa thấm vào đâu. Một cựu công dân Liên Sô, từng được nhà nước Liên Sô phong là Đại kiện tướng Công huân, vô địch thế giới về môn Cờ Vua là Gary Kasparov đã tặng 2 triệu  dollars để góp phần tống tang cái tên Lénin.

*

Chuyện đoán mò, nói ẩu của ngài Phan Định xảy ra đã lâu, năm 1981. Chẳng biết bây giờ tác giả quyển sách “Lê-nin và tuổi trẻ” có còn dám đọc lại những gì mình đã viết hay không. Nhưng Lénin nếu bị hất hủi ngay trên quê hương của Người thì Người vẫn còn một điều an ủi.

-Nè ông Móc, người Việt Nam quả là những con người chung thủy.

-Dĩ nhiên rồi, thưa Bác Lê! Nói về đức tính chung thủy của người Việt Nam chúng tôi thì một quyển sách dày như quyển tự điển cũng không nói hết. Mà tại sao Bác Lê lại biết được là dân tộc chúng tôi chung thủy?

-Tôi đọc trên tờ Sàigòn Giải phóng số Xuân 1993, có một ông Tố Hữu nào đó làm thơ hứa tặng tôi một chậu quất. Thế trái quất nó ra làm sao vậy, ông Móc?

-Trái ấy bên xứ Nga của Bác không có đâu. Ở miền Bắc nước tôi gọi là trái quất, ở miền Nam gọi là trái tắc hoặc trái hạnh, nó giống như trái quýt nhưng nhỏ hơn.

-Thế trái quýt nó ra làm sao?

-Bác hỏi ấm ớ bỏ mẹ! Đâu, bài thơ ấy đâu?

-Đây, sao ông Tố Hữu nói láo quá, hứa tặng một chậu quất mà tôi đợi hoài không thấy.

*

“… Lênin ơi,

Hà Nội vang tiếng pháo mừng Xuân

Con cháu Bác Hồ

Chung thủy, nghĩa nhân.

Xin dâng Người

Bồn quất đỏ Nhật Tân…”

(Tố Hữu 1993)

Thế thì ông Lénin nhận xét sai bét. Rõ ràng là người Việt Nam rất nghĩa nhân và chung thủy. Nhưng không phải giống như ông Tố Hữu nói. Ngay trên đất quê hương của bác Lê mà Bác còn bị đồng hương xem như một thứ của nợ cần xóa cho sạch thì ở Việt Nam ông Tố Hữu vẫn còn cất giọng “… Lênin ơi…”

Đấy là một sự nâng bi quá trễ tràng. Đồng ý là nhà thơ Tố Hữu có biệt tài làm thơ nâng bi. Nhưng phải chọn bi mà nâng chớ. Quả bi Lênin nó vừa cũ vừa xấu, tội gì mà hì hục nâng lên, nâng xuống   

-Thế ông bảo tôi phải nâng cái gì bây giờ. Ao ước ôm hôn má Bác Hồ, ôm hôn “chòm râu mát rượi hòa bình” thì lão Nguyễn Chí Thiện bảo “làm chó gì có hàm râu mát rượi hòa bình,” lão lại hỗn hào bảo “râu của Bác Hồ là râu của con yêu râu xanh…” Mấy chục năm nay tôi làm hàng ngàn bài thơ như thế, có sao đâu?

-Ông đã từng làm tới Phó Thủ Tướng mà chả khôn tí nào. Bên Nga họ đã dẹp Bác Lê, ông lại còn nâng bi Bác, trễ quá rồi. Bi Bác Lê, Bác Sít, Bác Mao, Bác Hồ chả có bi nào ra hồn. Bi nào cũng vừa xấu, vừa hôi, mó vào làm gì. Ông đã về vườn đuổi gà, thời giờ rảnh cũng nhiều, đi theo tôi, tôi chỉ cho mấy cái bi vừa đep, vừa thơm, tha hồ mà nâng.

-Bi nào thế?

-Ông muốn bi sáu bó trở lên thì có Liz Taylor của Mỹ, B.B. của Pháp, Sophia Loren của Ý…, còn nếu muốn bi ba mươi mấy, bốn mươi thì có Chân Trân, Lý Nhược Đồng bên Hồng Kông, Củng Lợi, Chương Tử Di của Trung Hoa lục địa, còn nếu ông muốn trẻ nữa thì…

-Chà, thế cũng đủ rồi. Các bi ấy quả là thơm thật. Nhưng bây giờ tôi quay ra bỏ không nâng bi các Bác nữa thì như thế mất lập trường và thiếu thủy chung! Thế nên tôi quyết tâm nâng bi các Bác đến hơi thở cuối cùng!

*

“Thủy, có khi viết là Thỉ, trong tiếng Hán có nghĩa là ban đầu, trước hết. Chung có nghĩa là chấm dứt, cuối cùng. Thủy chung, hay thỉ chung được giải thích là trước sao, sau vậy. Trước như thế nào thì sau giữ luôn như vậy cho đến cùng, không thay lòng đổi dạ.” (Tự điển Lê Ngọc Trụ – Lê Văn Đức).

Nếu thủy chung là trước sao, sau vậy thì “đồng chí” nhà thơ Tố Hữu, đệ nhất cai thầu của “nền văn nghệ cũi sắt” đúng là một con người chung thủy. Khi còn trẻ “đồng chí” làm thơ ca tụng Bác Lê, Bác Sít; tới tuổi trung niên, “đồng chí” vẫn làm thơ ca tụng Bác Sít, Bác Lê. Quá tuổi cổ lai hy cho tới lúc… hai năm mươi, “đồng chí” vẫn làm thơ ca tụng Bác Lê, Bác Sít. Thế thì “đồng chí” thủy chung quá đi chứ! Thế thì “đồng chí” hơn hẳn các Việt kiều yêu nước ở hải ngoại – những kẻ đã liều chết vượt biển tìm tự do, nay, lại muối mặt tiếp tay với Việt Cộng kêu gọi hòa hợp, hòa giải, kêu gọi dẹp bỏ cờ vàng ba sọc đỏ, xoá bỏ hận thù xây dựng đất nước… để kiếm chút cơm thừa, canh cặn cuối đời!

*  

… Brigite Bardot ơi,

Sàigon vang tiếng pháo mừng Xuân

Lão Móc lang bang,

Xin dâng Nàng

Một khúc thơ ngang…

Đó là bài thơ nâng bi mà Lão Móc sáng tác năm 1993, sau khi đọc bài thơ của nhà thơ lớn Tố Hữu. Năm 1963, tức ba chục năm trước đó, Lão Móc cũng đã từng làm nhiều bài thơ nâng bi B.B., Liz Taylor, Sophia Loren… mặc dù những bài thơ nâng bi bất hủ ấy đã bị tiện nội của Lão Móc phủ phàng đem đi cân ký-lô. Nhưng rõ ràng, Tố Hữu và Lão Móc đều là những người thủy chung đấy chứ?!

LÃO MÓC

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Bài viết, LÃO MÓC và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

13 Responses to TỐ HỮU: QUẢ BÍ TRÁI MÙA!

  1. Thang Long nói:

    Đảng CSVN nên vinh danh Tố Hữu với những đóng góp sau đây:

    – Bồi bút hạng nhất
    – Vọng ngoại hạng nhất
    – Nịnh bợ Stalin và Mao Trạch Đông hạng nhất
    – Vô cùng khát máu và vô cảm trước nỗi đau của đồng loại
    – Giúp HCM và đảng CSVN bán nước qua lời thơ, tiếng hát đầu độc trẻ em, học sinh, sinh viên, v.v…

  2. Hồ Dâm Dật nói:

    “… Hốt dâng Minh đống cứt vãi công trường
    Những nơi đó Lénin từng ị đấy”
    he he he

  3. ttvn2009 nói:

    Ngày xưa thời còn học phổ thông trung học mình rất thích mấy câu thơ của Tố Hữu (khi ấy chưa biết bác TH là văn nô) trong bài “Cô Gái Sông Hương” và được bác Đặng Nhật Minh dựng thành phim “cô gái trên sông”. Sau này xem lại những đoạn phim của Vietnamnet nói về “bướm đêm” ở Hanoi, tp HCM mà cảm thán thay cho mấy câu thơ trên:
    Thương thay cô gái trên sông,
    Ngày mai cô sẽ từ trong tới ngoài
    Thơm như hương nhuỵ, hoa lài
    Sạch như làn suối ban mai giữa rừng

    Phim “Bướm Đêm Hà Nội” đạo diễn bởi ông nội ĐNM:

  4. Tiếng Việt nói:

    Theo phiên âm của sách vở thì đọc là Liên Xô, Xít Ta lin … phải không nhỉ? Lão Móc lại nhầm S và X rồi!

  5. Cuu Chien Binh nói:

    Nen nho Gia, Luong, Tien la cua To Huu ca day. Tu nha tho, ong ay len Pho thu tuong so 1 lo ve kinh tai, lam ca nuoc suyt chet doi. Ong ta xay dung mo hinh dien hinh Quynh Luu, dua bo doi tang cuong cap huyen…to Huu sang LX xin an, Bregiolep noi: Chu nay la nha tho, chu co cong nhan pho thu tuong dau.

  6. Cuu Chien Binh nói:

    Lao Moc oi, X hay S deu duoc ca, tuy lao dung sao cung duoc.
    Nhu voi Duc Chua Gie xu, cung co the viet Duc Chua Gie xu, khong sao ca.
    Lien xo cung co the viet Lien xo v.v…

  7. Cuu Chien Binh nói:

    Xin loi, toi nham :
    Cung co the viet: Duc Chua Gie su hoac Gie xu;
    Lien so hoac Lien xo…

  8. Bảo Lương. nói:

    Những liệt sĩ trinh tiết

    LÊ MINH QUỐC

    Bạn trẻ quá tuổi 18
    đầu đội balô chân lội bùn non
    trên vai vác nắng hoàng hôn
    đi qua vùng Prech-vi-hear
    đi về Kampốt
    niềm tin như giọt nước ngọt chảy ra từ trái thốt nốt
    ồ tuổi nhỏ dại dột
    sau hành quân mơ sông suối tự tình
    suốt phiên gác mơ ngôi sao đồng trinh
    vắt kiệt sức
    tận cùng giấc mơ chỉ còn lại dòng thơ tình thơm như hoa cúc
    ném vào cõi hư vô
    đồng đội tôi đặt trinh tiết vào trong balô
    ngã xuống giữa rừng ngập ngừng chưa muốn chết
    khuôn mặt gầy ngờ nghệch
    đâu rồi những tiên nữ tuyệt trần
    vú nhỏ môi đỏ
    vuốt mắt bạn thiên thu?
    năm tháng đi qua ma quái âm u
    cánh rừng nào mà bạn đã chết?
    tiếng mìn K.P2 nổ chát chúa
    đanh tai nhức óc
    sao lúc ấy không thể nào khóc?
    sờ soạng đi tìm thân xác bạn tả tơi
    từng mảnh linh hồn bay trăm nơi
    làm sao nhặt đủ?
    …tiếng mìn nổ toang hoác nát trái tim nóng hổi
    còn đâu
    còn đâu
    bạn ơi, tuổi 18 trang nghiêm trong binh phục
    xin cúi đầu chào thế hệ của tôi
    quá khứ bừng lên như chiếc gương soi
    lấp lánh nụ cười những người chết trẻ

  9. Hải Hà nói:

    Nói chung tôi không thích thơ ‘cách mạng’ của ngài bí thơ đảng kiêm phó thủ tướng Tố Hữu, nhưng tôi thấy có bài này ông ấy viết về Huế từ khoảng 1940 mà nó rất đúng với thời kỳ này, đặc biệt với các trường đại học VN, xin đưa lên đây để bà con ta cùng xem lại.

    DỬNG DƯNG

    Du khách bảo đây vườn kín đáo
    Với hương dìu dịu, ý ngàn xưa
    Trời mây xanh nhạt màu hư ảo
    Đây xứ mơ màng, đây xứ thơ…

    Cô gái thẫn thờ vê áo mỏng,
    Nghiêng nghiêng vành nón dáng chờ ai
    Ven bờ sông phẳng con đò mộng
    Lả lướt đi về trong gió mai…

    Thành quách quanh năm sầm mặt lạnh
    Lá cờ uể oải vật vờ bay
    Lâu đài đường bệ màu kiêu hãnh
    Áo gấm hài nhung cánh phượng bay.

    Ta nện gót trên đường phố Huế
    Dửng dưng không một cảm tình chi!
    Không gian sặc sụa mùi ô uế
    Mà nước dòng Hương mãi cuốn đi…

    Ý chết đã phơi vàng héo úa
    Mùa thu lá sắp rụng trên đường
    Mơ chi ảo mộng ngàn xưa nữa?
    Cây hết thời xanh đến tiết vàng!

    Ai tưởng ngàn năm nương đất ấy
    Mầm cây thêm nhựa, lá thêm tươi
    Ôi mỉa mai! Hồn ta chỉ thấy
    Rêu hèn sống gửi nhánh khô thôi.

    Ai tưởng thiên đường sao lấp lánh
    Tài hoa tinh kết, ngọc long lanh
    Ta chỉ thấy nơi đây mồ lạnh
    Chôn linh hồn đắm đuối hư danh.

    • Hồ Dâm Dật nói:

      Một cái đẹp (nhưng ta cũng đâu thấy vẽ đẹp hoặc hay gì đâu, chỉ tàm tạm được vì không nực mùi như những vần thơ thời cs) đâu thể che được triệu cái vừa xấu, vừa ngu, vừa hèn, lại vừa ác mà tên Tố Hữu đã làm ra để giết bạn bè và người VN chứ!
      Cuối cùng khi thiên hạ nghĩ đến Tố Hữu thì chỉ nghĩ đến một đống cứt vĩ đại của CNCS tại VN thời tên lính nô Hồ Chí Minh trây trét khắp quê hương! Thúi thúi lắm, cực kỳ thúi và hạ tiện phơi bày cả ra! he he he

  10. tt nói:

    cờ đỏ búa liềm dâu mang tới
    kìa búa sát nhân liềm cắt cổ
    màu cờ đỏ loang đầy máu dân
    cải cách ruộng đất dầu chất đống
    nhân văn giai phẩm máu thành sông
    tặng LÀNH [TỐ HỮU]

  11. Sự thật nói:

    Nhân tác giả bài báo nhắc đến “nhà thơ Bút tre” và cụm từ “vũ tru” (chứ không phải vũ trụ), tôi xin góp vui bằng mấy “câu thơ” có thật nghe nói là của “nhà thơ Bút tre” từ đầu thập niên 1960:
    Liên Xô tiến bộ ào ào
    Anh Ga-ga-rỉn (Ga-ga-rin) bay vào vũ tru (vũ trụ)
    Trên rừng con khỉ đánh đu
    Thằng Ngô Đình Diệm mút cu bác Hồ (xin lỗi khi phải ghi câu này)

  12. Viet Hung nói:

    Ngay từ những ngày còn nằm trong nôi, trẻ con đã được giáo dục theo kiểu:

    “Yêu biết mấy nghe con tập nói
    Tiếng đầu lòng, con gọi Xit-ta-lin”

    “Cải cách ruộng đất”, năm 1956
    ….
    Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ.
    Cho ruộng đồng lúa tốt thuế mau xong.
    Cho đảng bền lâu,
    Thờ Mao Chủ Tịch,
    Thờ Sít-Ta-Lin bất diệt.
    ……

    “Bài ca tháng Mười”, năm 1950
    …..
    Những đầu lên máy chém.
    Nhìn đao phủ, hiên ngang:
    “Muôn năm, Đảng Cộng Sản!
    “Chào Xô Viết Liên Bang!”

    …..
    “Khóc Stalin chết”, năm 1953
    …..
    Stalin ! Stalin!
    Hỡi ơi ông mất đất trời còn không?
    Thương cha thương mẹ thương chồng
    Thương mình, thương một thương ông thương mười!
    ……

    Từ “Tiếng đầu lòng, con gọi Stalin” cho đến con đường “Trung với đảng, hiếu với dân” là cả một quá trình “trồng người” của CS.

    Người do CS giáo dục và đào tạo là những người chỉ biết nhắm mắt bảo vệ quyền lợi của đảng và hoàn toàn vô cảm trước những khổ đau của người dân, trước những suy tàn của tổ quốc. Đó là cội nguồn tâm lý chính trị giải thích sự ra đời của văn hoá bán nước.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s