VÀ AI SẼ ĐƯỢC NHƯ ĐỨC PHẬT?

Chiếc siêu pháo đài bay B.29 cất cánh trong bóng đêm với một phi hành đoàn chín người trong đó có hai chuyên viên đặc biệt. Bỏ lại quần đảo Mariana dưới cánh bay, đại tá Paul Tibbets hướng chiếc phi cơ về phía nước Nhật. Tờ mờ sáng, trên cao độ 4.000 bộ, đại tá Tibbets nhìn xuống đảo Iwo Jima, nơi mà một trận đánh dữ dội, đẫm máu đã xảy ra không lâu trước đó giữa Thủy quân Lục chiến Mỹ và lực lượng phòng thủ của Nhật. Ông thông báo cho căn cứ Không quân Mỹ ở Iwo Jima – đang theo dõi chuyến bay của ông một cách chăm chú: “Tôi đang tiến về hướng mục tiêu”, rồi nâng cao độ, hướng về Hiroshima.

Từ mấy tuần nay, phi hành đoàn đã phải thực tập ném bom mà không hề biết được nhiệm vụ sắp tới. Chỉ vài giờ trước đây, phi công kiêm trưởng phi hành đoàn, đại tá Tibbets mới loan báo tin cho họ: “Chúng ta sẽ thả xuống nước Nhật một trái bom không giống với bất cứ trái bom nào từ trước tới giờ. Nó có sức nổ tương đương với 20 ngàn tấn TNT; nó là một trái bom nguyên tử!”

Bốn cánh quạt vẫn quay tít trong ánh sáng mờ mờ của buổi bình minh trên biển, đại tá Tibbets chăm chú theo dõi tin tức không trung từ các phi cơ bay trước báo về. Mây quang đãng, mục tiêu nhìn thấy rất rõ.

Mục tiêu là thành phố hải cảng và kỹ nghệ Hiroshima với 350 ngàn dân. Chiếc pháo đài bay B.29 mới được sơn lên cái tên mới: Enola Gay. Màu xám bạc của nó lấp lóa trong ánh mặt trời buổi sớm. Đại tá Tibbets ra lệnh cho phi hành đoàn: “Sắp đến mục tiêu, tất cả đeo kính an toàn. Chuẩn bị ném bom!”.     

Khi chiếc Enola Gay đã ở ngay trên trung tâm thành phố, lúc 8 giờ 15 phút 15 giây ngày 6-8-1945, chuyên viên thả bom nhấn nút, khoảng chứa bom mở ra, một quả bom khổng lồ với cây dù lớn xoè ra phía trên, rơi xuống!

Không đầy một phút nữa, bom sẽ nổ. Phải nhanh chóng thoát khỏi vùng nổ. Đại tá Tibbets chúi mũi chiếc Enola Gay xuống để tăng tốc độ. Bốn mươi ba giây sau đó, một vùng sáng chói gấp hàng chục lần mặt trời bùng lên. Tiếp theo đó, chiếc pháo đài bay rung chuyển dữ dội như một món đồ chơi trong cơn bão. Đại tá Tibbets cố gắng giữ vững đường bay. Khi những cơn chấn động đã giảm bớt cường độ, ông mới quay đầu nhìn lại: Thành phố Hiroshima đã chìm dưới một đám mây hình nấm, màu tím đen đang mỗi lúc mỗi bốc cao. Có ai ở trong phi hành đoàn đã thốt lên bằng một giọng run rẩy xúc động: “Chúng ta vừa làm chuyện gì vậy?”

Không có ai lên tiếng trả lời. Mọi người mặt mày xám ngắt trong cơn bàng hoàng cực độ.

*

Chúng ta vừa làm chuyện gì vậy?

Đó không phải chỉ là câu hỏi của một nhân viên phi hành đoàn chiếc Enola Gay. Mà nó là câu hỏi của hầu hết mọi người trên khắp các lục địa.

Đó không phải là quả bom nguyên tử đầu tiên đã nổ. Trước đó đã có những trái bom thí nghiệm. Nhưng nó là quả bom nguyên tử đầu tiên được sử dụng vào mục đích tấn công, và không phải là quả cuối cùng. Kể từ buổi sáng hôm đó, nhân loại đã bắt đầu đem vào cuộc sống của mình một nỗi lo âu mới.

-Năm chục ngàn người đã chết ngay tức khắc trong ánh chớp kinh hoàng lúc 8 giờ 16 phút ngày 6-8-1945. Hàng trăm ngàn người bị thương, nhiều chục ngàn người khác chết trong những ngày sau đó.

Chúng ta đã làm chuyện gì vậy?

Câu hỏi này đã đeo đuổi nhiều người trong một thời gian dài. Những phi hành đoàn của hai chuyến bay thả bom xuống Hiroshima (Quảng Đảo) và Nagasaki (Trường Kỳ) đã bị ám ảnh bởi câu hỏi đó nhiều hơn ai hết. Mặc dù họ không phải là những người quyết định, họ chỉ là những kẻ thừa hành. Họ là những quân nhân trong thời chiến, và họ phải triệt để tuân hành mệnh lệnh cấp trên, vả lại, họ không hề có một ý niệm chính xác về mức tàn phá của hai quả bom, nhưng họ vẫn có những nỗi ám ảnh.

Những nỗi ám ảnh đã đeo đuổi họ sau khi họ biết họ đã thi hành sứ mạng, và đem lại hậu quả ra sao. Một vài người trong số họ đã bị ám ảnh đến nỗi gần như điên loạn. Đa số đều bị khủng hoảng tinh thần, mặc dù ai nấy đều biết rõ họ không phải là người quyết định gây nên tai họa. Tai họa đó có cần thiết phải xảy ra không?

Câu hỏi đó không chỉ ray rứt các nhân viên phi hành đoàn của hai chuyến bay định mệnh. Nó còn là câu hỏi ray rứt nhiều người; đã gây nên những cuộc tranh luận rộng lớn. Người ta đã tính toán hơn thiệt về những thiệt hại nhân mạng, tài sản… mà đôi bên sẽ phải gánh chịu để kết thúc cuộc chiến Thái Bình Dương nếu hai quả bom không được đem ra sử dụng. Những cuộc tranh luận vẫn chưa ngã ngũ. Phe nào cũng có những biện minh, không ai chịu ai.

Nhưng có một điều rất rõ ràng: nỗi ám ảnh trong tâm tư của nhiều người trước tai họa này là có thật.

*

Hàng chục triệu người đã chết đi thời Staline lãnh đạo Liên Bang Xô Viết. Có ai bị ám ảnh về việc đó không? Câu trả lời là: Có!

Hàng chục triệu người Trung Quốc đã chết trong cuộc “Cách mạng đại nhảy vọt” (Great leaf forward) và cuộc “Cách mạng văn hóa vô sản”. Có ai bị ám ảnh về việc đó không? Câu trả lời là: Có!

Người ta đã nhắc, đang nhắc đến các chuyện ấy. Có nên tha thứ cho những người đã gây ra các chuyện ấy hay không?

Cuộc “Cải Cách Ruộng Đất” trong thập niên 50 ở miền Bắc Việt Nam, mà thực chất chỉ là một cuộc tiêu diệt tàn bạo một thành phần dân tộc đã làm bao nhiêu người chết, bao nhiêu gia đình ly tán, bao nhiêu người sống sót vật vờ!

Những người Cộng Sản Việt Nam, tác giả của những chuyện đó ngoài chuyện “sửa sai” ngay sau đó vì phản ứng bất lợi của quần chúng; trong tâm tư họ có những nỗi ám ảnh nào không?

Sau bao nhiêu năm, chúng ta chỉ nghe phía nạn nhân lên tiếng, đã nghe những người ngoài cuộc lên tiếng. Nhưng chúng ta chưa nghe những tác giả của cuộc chém giết này lên tiếng.

Hàng trăm ngàn sĩ quan, công chức, cán bộ, thành phần đảng phái của Miền Nam đã phải nhận những tháng năm tù đày phi lý, vô nhân đạo sau tháng 4 năm 1975. Ai chịu trách nhiệm về chuyện này?

Câu trả lời sẽ là: Cộng Sản Việt Nam! Đúng, nhưng cụ thể hơn nữa: những ai đã quyết định những việc này? Ai đề ra chính sách đó?

Nếu chúng ta là Staline, Mao Trạch Đông hoặc Hồ Chí Minh đến trước Đức Phật và chúng ta hỏi Ngài:

-Thưa Đức Phật, với bao nhiêu tội ác mà họ đã gây ra, Ngài có sẵn lòng tha thứ cho họ hay không?

Chúng ta sẽ rất dễ dàng thống nhất với nhau câu trả lời của Đức Phật: Nên tha thứ!

Nhưng đó có thể không phải là câu trả lời của tất cả những người Việt Nam, mặc dù rất nhiều người Việt Nam là Phật.

Chúng ta không rõ là đến giờ này, trong số những nhân viên của hai phi hành đoàn của hai chuyến bay tử thần tháng 8 năm 1945 có ai còn sống sót hay không. Nhưng chúng ta biết chắc chắn một điều là sẽ không có bao nhiêu người trong số những nạn nhân Hiroshima và Nagasaki còn căm thù và oán trách họ. Người ta biết họ chỉ là những kẻ thừa hành.

Những ai đã phải trải qua lao tù Cộng sản, có thể đến giờ này sẽ tha thứ cho những vệ binh, quản giáo trong các “Trại Cải Tạo”. Họ chỉ là những kẻ thừa hành. Nhưng còn những tay chóp bu đã nghĩ ra “Chính sách Cải Tạo”, và trên nữa “Chủ nghĩa Cộng sản”, liệu chúng ta có đủ lòng từ bi để tha thứ hoàn toàn? Trong tâm tư những tay Cộng sản chóp bu của Hà Nội có nỗi ám ảnh nào không về những tội ác mà họ trực tiếp gây ra bao nhiêu năm nay cho đất nước? Và sẽ có bao nhiêu con người trong chúng ta sẽ rộng lòng như Đức Phật?!

LÃO MÓC

Advertisements
Bài này đã được đăng trong Bài viết, LÃO MÓC và được gắn thẻ . Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s